
1.- GIẾT TIỀM LỰC LÀ G̀?
Muốn hiểu giết tiềm lực là ǵ, th́ trước hết phải định nghĩa tiềm lực là ǵ? Trong tiếng Nho-Việt, theo nghĩa tầm nguyên, “tiềm” là “ch́m dưới nước, kín đáo”; “lực” là “sức” (sức lực, sức mạnh). Như thế, “tiềm lực” là sức mạnh kín đáo, chưa bộc lộ, chưa phát huy. Nói một cách khác, tiềm lực là khả năng tiềm tàng, chưa được sử dụng, và sẵn sàng trở thành sức mạnh nếu được vận dụng hoặc khai thác. Ví dụ tiềm lực nhân công, tiềm lực kinh tế ...
“Giết tiềm lực” là từ ngữ của đảng Cộng Sản Việt Nam, (CSVN) nghĩa là tiêu diệt ngay từ trong trứng nước tất cả những ai, những tổ chức có khả năng tiềm ẩn, chưa vận dụng, chưa bộc lộ, chưa phát huy, mà không theo đảng CSVN, và có thể cạnh tranh, chống lại hay gây nguy hiểm cho đảng CSVN trong tương lai.
Đây là chủ trương xuyên suốt của những người cộng sản từ khi chủ nghĩa nầy được truyền bá qua Á Châu cho đến ngày nay. Tuy nhiên, CSVN ứng dụng chủ trương nầy một cách uyển chuyển theo từng thời gian, từng trường hợp, từng đối tượng, từng hoàn cảnh.
Thành tích đầu tiên trong chủ trương giết tiềm lực của CSVN là việc Nguyễn Ái Quốc bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu vào năm 1925. Nguyên Nguyễn Ái Quốc là một gián điệp được Đệ tam Quốc tế Cộng sản gởi đến Quảng Châu (Trung Hoa) khoảng giữa tháng 11-1924 dưới tên Lư Thụy. Lúc đó, tại Quảng Châu, Phan Bội Châu mới biến Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) vào đầu năm 1924. Nhiều lần, Lư Thụy viết thư đề nghị Phan Bội Châu sửa đổi lại cương lĩnh và chương tŕnh VNQDĐ, nhưng Phan Bội Châu chưa chịu.
Ngày 1-7-1925 (11 tháng 5 năm ất dậu), Phan Bội Châu từ Hàng Châu đến ga Thượng Hải. Biết trước việc nầy, Lư Thụy cùng một người cộng sự là Lâm Đức Thụ, bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, bản dịch của Thượng Huyền, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.) Lư Thụy nhắm mục đích vừa để loại bỏ nhà lănh đạo cách mạng uy tín nhất ở hải ngoại và giành lấy tổ chức của Phan Bội Châu, vừa để lănh thưởng.
Chẳng những chỉ một ḿnh Phan Bội Châu, mà sau đó, tất cả những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa, nếu không theo phe Lư Thụy, đều bị Lư Thụy kiếm cách thủ tiêu hoặc Lư Thụy bán tin cho Pháp bắt, trên đường họ trở về Việt Nam. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài G̣n: 1970, tt. 108, 261.)
Ngay cả khi Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mở cuộc tổng khởi nghĩa năm 1930, các đảng viên CS theo đúng chủ trương của Lư Thụy, rải truyền đơn tố cáo cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ, để cho Pháp biết mà đề pḥng và truy nă đảng viên VNQDĐ.(Hoàng Văn Đào, sđd. tr. 108.) Xin lưu ư rằng sau sự thất bại của VNQDĐ, đảng CSĐD trở thành đảng chính trị bí mật duy nhất chống Pháp, nên những thanh niên Việt Nam yêu nước lúc đó không có chọn lựa nào khác là muốn chống Pháp th́ đành gia nhập đảng CS.
Sau khi nắm được quyền lực năm 1945, trên toàn quốc, Việt Minh cộng sản (thuộc đảng CSĐD) đă tận dụng t́nh h́nh xáo trộn, vu cho những nhà hoạt động chính trị không cộng sản hay đối lập là Việt gian, tay sai thực dân Pháp, rồi bắt giam không xét xử. Những nhân vật hoạt động nổi tiếng bị Việt Minh bị giết trong giai đoạn nầy là:
Năm 1945: Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khải, Phạm Quỳnh, Ngô Đ́nh Khôi và con trai, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu và 4 con trai, Hồ Vĩnh Kư, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh.
Năm 1946: Trương Tử Anh, Lư Đông A, Khái Hưng Trần Khánh Giư, Hồ Văn Ngà và một nhà lănh đạo nổi tiếng bị giết năm 1947 là Giáo chủ Ḥa Hảo Huỳnh Phú Sổ.
Ngoài những nhân vật chính trị trên đây, Việt Minh ở các địa phương giết hầu hết những nhân vật nổi tiếng trong từng huyện, từng xă để tiêu diệt tất cả những ai có thể nguy hiểm cho độc quyền cai trị của Việt Minh. Theo những người lớn tuổi đă từng trải qua giai đoạn nầy, vào năm 1945, Việt Minh đă giết khoảng trên dưới 200,000 người trên toàn Việt Nam, từ thành phố xuống tận làng xă.
2.- GIẾT TIỀM LỰC TRONG BIẾN CỐ MẬU THÂN
Biến cố Mậu Thân đă được viết và nói đến nhiều lần. Bài nầy chỉ xin nhấn mạnh đến chủ trương giết tiềm lực của CSVN trong biến cố nầy.
GIẾT TIỀM LỰC NHÂN VIÊN HÀNH CHÁNH VIỆT NAM CỘNG H̉A
Từ khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị sụp đổ ngày 1-11-1963, t́nh h́nh chính trị Việt Nam Cộng Ḥa bất ổn. Các tướng lănh lật đổ ông Diệm không đủ khả năng quản lư đất nước, lại liên tiếp đảo chánh lẫn nhau làm cho đất nước trở nên xáo trộn từ 1963 đến 1967. Bên cạnh đó lại có những cuộc biểu t́nh rầm rộ của các tổ chức hoặc giáo hội, mạnh mẽ nhất là vụ Phật tử biểu t́nh chống Hiến chương do Nguyễn Khánh ban hành ngày 16-8-1964 ở Vũng Tàu, và sau đó là bàn thờ Phật giáo xuống đường ở các thành phố miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào tháng 6-1966.
Mặt trận Dân Tôc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) liền lợi dụng cơ hội, phát triển mạnh. Tuy nhiên, ngày 11-9-1966, Quốc hội lập hiến được bầu ra. Bản hiến pháp mới được Quốc hội ban hành ngày 1-4-1967, h́nh thành nền Đệ nhị Cộng Ḥa. Cuộc bầu cử tổng thống ngày 3-9-1967, đưa liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ trở thành tổng thống và phó tổng thống, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng chính trị từ khi ông Diệm bị sát hại. T́nh h́nh chính trị ổn định dần dần trở lại.
Hoạt động của MTGPMN bị giới hạn. Đó là điều làm cho giới lănh đạo CS lo ngại. V́ vậy, trong kế hoạch do CSVN đưa ra ngày 26-1-1968, ba ngày trước Tết Mậu Thân, một trong những mục tiêu đầu tiên của cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của CSVN là giết tất cả những nhân viên hành chánh cấp cơ sở, để phá hủy hệ thống chính quyền mới được củng cố trở lại của VNCH từ sau khi bản hiến pháp mới ngày 1-4-1967, thành lập nền Đệ nhị Cộng Ḥa. (Don Oberdorfer, Tet!, New York: Da Capo, 1984, p. 206.)
Kết quả là riêng tại Huế sau vụ Mậu Thân th́: "Về phía dân chúng, có 5, 800 người chết, trong đó có 2, 800 người bị Việt cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xă và xă bị gán cái tội "cường hào ác bá", 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số Phi Luật Tân." (Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, Nxb. Xuân Thu, California,1992, tr. 642.)
Sau đây là tài liệu của một cán bộ quân sự cộng sản do Sư đoàn 1 Không kỵ Hoa Kỳ bắt được ngày 12-6-1968 tại Thừa Thiên, nghĩa là sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân khoảng hơn ba tháng. Viên cán bộ nầy ghi lại trong sổ tay như sau: "Toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy từ xă tới tỉnh đă bị tiêu diệt hoặc gẫy đổ. Hơn 3,000 tên đă bị giết. Địch sẽ chẳng bao giờ tái lập lại được hệ thống cũ hoặc xoay chuyển được thất bại của chúng. Dù chúng có thể thay thế ngay bằng những nhân sự thiếu kinh nghiệm, bọn nầy cũng sẽ chẳng làm được ǵ."( Stephen Hosmer, "Tổng tấn công Tết và Huế", trong Thảm sát Mậu Thân ở Huế, tuyển tập - tài liệu của Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại, California: 1999, tr. 217)
GIẾT TIỀM LỰC QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG H̉A
Cũng xuất phát từ cuộc đảo chánh lật đổ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, các tướng lănh trong Quân đội VNCH chia rẽ, mâu thuẫn sau biến cố nầy. Những cuộc đảo chánh liên tiếp xảy ra. Ngày 1-11-1963, tướng Dương Văn Minh đảo chánh ông Diệm, th́ chưa đầy ba tháng sau, ngày 24-1-1964, tướng Nguyễn Khánh lật đổ tướng Dương Văn Minh. Ngày 13-9-1964, tướng Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức “biểu dương lực lượng”, ngày 19-2-1965 tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo lại đảo chánh, nhưng bất thành.
Ngày 19-6-1965, Hội đồng Quân lực quyết định cử tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Lănh dạo Quốc gia (quốc trưởng) và Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Uỷ ban hành pháp Trung ương (thủ tướng), chấm dứt sự cầm quyền của giới dân sự, mở đầu sự cầm quyền của giới quân sự.
Do t́nh h́nh chiến tranh, quân lực tăng trưởng nhanh chóng, từ khoảng 250,000 quân năm 1960, lên khoảng 500,000 quân năm 1964 và trên 800,000 quân năm 1968. Những năm nầy là những năm thử thách của Quân lực VNCH trên chiến trường càng ngày càng ác liệt. V́ vậy, để chận đứng sự lớn mạnh của quân đội VNCH, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của CSVN nhắm triêu diệt càng nhiều càng tốt quân đội VNCH.
Quân đội VNCH bị tấn công bất ngờ, nhưng đă phản ứng kịp thời, nhanh chóng, mạnh mẽ và hiệu quả. Khi b́nh luận về trận Mậu Thân, ông Yves Gras, một tướng lănh Pháp, đă viết: "Quân đội Nam Việt giữ vai tṛ chủ yếu trong các trận đánh bẻ găy cuộc tấn công của phương Bắc trong Tết Mậu Thân vào tháng 2 năm 1968." (Yves Gras [tướng lănh Pháp], "L’autre armée Vietnamienne, L’engagement des Vietnamiens dans la guerre d’Indochine (1945-1975)", đăng trong sách Indochine: Alerte à l’histoire của một nhóm tác giả, Académie des Sciences d’Outre-Mer [Viện Hàn Lâm Khoa Học Hải Ngoại], Institut de l’Asie du sud-est [Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á] và Association nationale des anciens d’Indochine [Hiệp Hội Quốc Gia Cựu Chiến Binh Đông Dương] đồng xuất bản, Paris, 1985, tr. 279.)
Sau Tết Mậu Thân, khi được tổng thống Hoa Kỳ gởi sang thị sát chiến trường Việt Nam ngày 23-2-1968, tướng Earle G. Wheeler, trong báo cáo gởi về Washington, đă nhấn mạnh: "Các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng Ḥa đă kháng cự cuộc tấn công ban đầu với một sức mạnh thần kỳ. (Yvea Gras, sđd., tr. 279.) Như thế, CSVN đă thất bại trong việc phá tiềm lực của quân đội VNCH.
TIÊU DIỆT TIỀM LỰC QUÂN ĐỘI HOA KỲ
Khi đối đầu với quân đội Hoa Kỳ, CSVN, biết rằng họ khó có thể thắng được quân đội Hoa Kỳ, trang bị vũ khí tối tân và hùng hậu. Do đó, CSVN trở lại phương pháp cũ, đă từng áp dụng khi đánh nhau với quân đội viễn chinh Pháp, đó là quấy phá hậu cứ của địch quân. Cần chú ư là trước khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ năm 1954, Pháp đă thất trận ở ngay tại Paris, do đảng CS Pháp và các nhóm khuynh tả gây khó khăn cho chính phủ Pháp.
V́ vậy, dầu tránh né đụng độ với quân đội Hoa Kỳ và cố t́nh tấn công quân đội VNCH trên toàn quốc, CSVN lại tấn công Ṭa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n. Làm như thế, CSVN cố t́nh gây tiếng vang lớn trên thế giới và tại Hoa Kỳ, để lung lạc và làm chia rẽ dân chúng Hoa Kỳ.
Về việc nầy, th́ phải nói là CSVN đă thành công. Dân chúng Hoa Kỳ hoang mang về t́nh h́nh an ninh ở Việt Nam, khiến họ tránh đến Việt Nam đầu tư, làm ăn buôn bán. Quan trọng hơn nữa, lúc đó, quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam vào cuối năm 1967 khoảng 486,000 quân, nhưng không phải chỉ gồm những quân nhân hiện dịch, t́nh nguyện như ngày nay ở Irak, mà lúc đó Hoa Kỳ c̣n có chế độ quân dịch, nghĩa là trong số quân Mỹ được gởi sang chiến đấu ở Việt Nam, có khá đông thành phần quân nhân thi hành nghĩa vụ quân dịch 12 tháng hay 18 tháng.
Dân chúng Hoa Kỳ ở cách Việt Nam nửa ṿng trái đất, chỉ theo dơi t́nh h́nh qua truyền h́nh và báo chí. Truyền h́nh và báo chí thiên tả tô đậm chiến tranh Việt Nam, khiến cho dân chúng Hoa Kỳ lo ngại cho thân nhân của họ đang thi hành quân dịch ở Việt Nam. Các phong trào phản chiến đ̣i rút quân Hoa Kỳ khỏi Việt Nam hoạt động mạnh hơn nữa, ảnh hưởng sâu rộng đến chính trường Hoa Kỳ.
Năm 1968 là năm tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, t́nh h́nh chính trị Hoa Kỳ rất nhạy cảm. Ngày 23-2-1968, tổng thống Lyndon Johnson cử tướng Earle G. Wheeler sang Việt Nam t́m hiểu t́nh h́nh tại chỗ. Tướng Wesmoreland, tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam đề nghị tăng 206,000 quân Hoa Kỳ vào Việt Nam. Ngày 1-3-1968, tổng thống Johnson quyết định thay thế bộ trưởng Quốc pḥng Robert Mc Namara bằng Clark Clifford. Sau đó, ngày 22-3-1968, Lyndon Johnson cử tướng Abrams, thay tướng Westmoreland, làm tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ngày 30-3-1968, Johnson tuyên bố không tái ứng cử tổng thống và xúc tiến việc t́m kiếm một giải pháp chính trị trên bàn hội nghị. Từ năm 1969, Hoa Kỳ bắt đầu kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh, mở đầu cho việc rút quân Hoa Kỳ sau nầy...
TIÊU DIỆT TIỀM LỰC MTDTGPMNVN
Sau năm 1975, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một thành viên quan trọng trong MTDTGPMNVN cho rằng “Hà Nội đă có tội khi đưa ra những tính toán sai lầm làm tiêu phí hết sức mạnh của miền Nam.” (Peter Macdonald, Giap, the Victor in Vietnam, New York: W.W. Norton & Company, 1993, p. 268. Nguyễn Đức Cung trích dẫn, “Từ ấp chiến lược đến biến cố Tết Mậu Thân”, tập san Định Hướng, Paris: số 51, Mùa Xuân 2008.)
Thật ra, Hà Nội không sai lầm, mà Hà Nội tính toán việc nầy từ trước, dầu thắng hay bại, CS Hà Nội đều hưởng lợi. Cần chú ư, khi mới thành lập, MTDTGPMNVN gồm đa số là đảng viên cộng sản miền Nam và những người bất măn chế độ Ngô Đ́nh Diệm bỏ theo Mặt trận. Khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ, có một số người muốn quay trở về với chính phủ Sài G̣n. (Mới đây, trong một công bố của của cựu đại tướng Nguyễn Khánh, ông có đề cập đề việc nầy.)
Đảng LĐ ngoài Bắc không mấy tin tưởng hai thành phần nầy và không kiểm soát được cả hai thành phần nầy. V́ vậy, khi mở cuộc tổng công kích Mậu Thân, CSVN đă tính toán cả hai mặt. Nếu MTDTGP chiến thắng, th́ đảng Lao Đông tức CSVN ở Hà Nội sẽ giành lấy công đầu. Nếu MTDTGP thất bại, chủ lực của MTDTGP bị quân đội VNCH tiêu diệt, th́ đây sẽ là cơ hội tốt để đảng LĐ thanh lọc hàng ngũ MTDTGP, gởi người từ miền Bắc vào thay thế, nắm trọn và điều khiển hẳn toàn bộ MTDTGP, và loại bỏ những thành phần miền Nam vốn không tuân phục quyền lực Hà Nội trong MTDTGP.
Đây không phải là lần đầu mà những nhà lănh đạo CSVN ở ngoài Bắc thi hành mưu kế thâm độc nầy để tiêu diệt tiềm lực của đồng đảng cộng sản phương Nam. Trong biến cố mà sách vở cộng sản gọi là “Nam Kỳ khởi nghĩa”, khi Xứ uỷ cộng sản Nam bộ xin phép Trung ương đảng ở ngoài Bắc để nổi dậy năm 1940, th́ Trung ương đảng CSĐD ở ngoài Bắc chấp thuận ngay. Tuy nhiên, khi gần đến ngày hành động, Trung ương đảng CSĐD lại ra lệnh đ́nh hoăn cuộc nổi dậy.
Thế là “Nam Kỳ khởi nghĩa” của cộng sản ngày 23-11-1940 hoàn toàn thất bại, v́ sự đổi ư bất ngờ của Trung ương đảng CSĐD ở ngoài Bắc. Toàn bộ giới lănh đạo cộng sản Nam bộ bị bắt hay phải bỏ trốn. Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Vơ Văn Tần, Dương Công Nữ, Dương Ngọc Hiển, lần lượt bị Pháp bắt và xử tử năm 1941. Những người cộng sản Nam bộ cho rằng chính Trung ương đảng CSĐD ngoài Bắc, đứng sau lưng là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh, đă cố t́nh ra lệnh bất nhất để cho cuộc nổi dậy của Xứ Uỷ Nam bộ thất bại, mượn tay Pháp bắt giết các lănh tụ trong Nam, đơn giản chỉ để làm cho CS Xứ uỷ Nam Bộ yếu đi cho dễ kiểm soát. (Nguồn tin do nhà văn Nguyễn Đức Lập kể lại ngày 30-4-2001 tại Orange County. Ông Lập nghe cha mẹ là kư giả Hồng Tiêu và nữ văn sĩ Tùng Long kể lại. Ngoài ra ông Lập c̣n nghe bạn bè của cha mẹ là những người lớn tuổi trong giai đoạn 1940 kể chuyện.)
Trở lại với biến cố Mậu Thân, sau khi quân đội MTDTGP bị tiêu diệt, cộng sản Hà Nội liền ào ạt gởi quân vào miền Nam để tăng viện, điền trám chỗ trống, giữ cho quân đội du kích cộng sản khỏi bị suy sụp. Từ đó, CS Bắc Việt hoàn toàn điều khiển MTGPDT, và loại bỏ những thành phần miền Nam vốn không tuân phục quyền lực Hà Nội trong MTDTGP.
3.- KẾT LUẬN
Giết tiềm lực là chủ trương của đảng CSVN từ khi những người cộng sản hoạt động ở Việt Nam. V́ vậy, đảng CSVN phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả những cuộc thủ tiêu, khủng bố, tàn sát trong tất cả những biến cố trên toàn cơi Việt Nam, từ năm 1945 cho đến ngày nay, đặc biệt trong biến cố Mậu Thân, chứ không thể chối tội hay đổ thừa cho các cấp thuộc hạ, các cấp địa phương.
Trong biến cố Mậu Thân, CSVN đă phạm rất nhiều tội ác, giết người một cách bừa băi, dă man bằng cách tùng xẻo, chôn sống biết bao nhiêu đồng bào vô tội. Thế mà trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi của một kư giả Tây phương vào năm 1969, ông bộ trưởng Bộ quốc pḥng Bắc Việt lúc đó, đại tướng Vơ Nguyên Giáp, đă chối rằng Hà Nội không tổ chức tổng công kích Tết Mậu Thân. (Don Oberdorfer, sđd. tr. 45)
C̣n về việc giết người tập thể, ông Bùi Tín, nguyên là đại tá quân đội cộng sản Bắc Việt, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân Hà Nội trước năm 1990, đă viết rằng: "Cho nên những vụ tàn sát có tính chất tập thể có thể đă xảy ra ở các tiểu đoàn đang hành quân rút lui. Giữa cảnh hỗn loạn khi có lệnh rút lui...Một số đơn vị nảy ra hành động thủ tiêu tù binh để bảo đảm không lộ bí mật, không bị nguy hiểm, "nhẹ gánh", "khỏi vướng chân", "sẽ chết cả nút"..."( Thành Tín [Bùi Tín], Mặt thật, hồi kư chính trị, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tt. 185-186.)
Nếu biện minh như ông Bùi Tín, th́ ông giải thích làm sao khi chưa rút lui, cộng quân đă tàn sát và chôn sống hàng ngàn dân vô tội tại Gia Hội (Huế) trong thời gian họ tạm chiếm vùng nầy?
Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, một giáo sư miền Nam nhảy núi theo cộng sản, nói rằng: "Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được... Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ từ phía những người lănh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi v́ t́nh trạng giết chóc bừa băi như vậy, đă không xảy ra ở địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với t́nh trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài G̣n thời ấy."( Thụy Khê, "Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế”, phỏng vấn trên đài RFI, 12-7-1997, đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu,California, số 36, tháng 8-9-1997.)
Có lẽ cần nên nhớ rằng trên toàn quốc không có nơi nào mà CSVN chiếm được lâu ngày để có thể hoành hành, giết chóc như ở Huế. Trong khi đó, lịch sử cho thấy, suốt từ 1945 đến 1975, trên toàn quốc, CSVN đă giết hại tập thể một cách tàn bạo, chôn sống biết bao nhiêu người, ở tất cả các cấp từ trung ương tới địa phương.
Cách thức đổ lỗi "cục bộ", "địa phương", ném đá giấu tay, và nhất là cách thức luôn luôn làm ra vẻ ngoại phạm, tức không có mặt tại phạm trường lúc xảy ra biến cố, là bài bản sách vở của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh, và CSVN trong kế hoạch giết tiềm lực tất cả những thành phần không cộng sản, ngay từ đầu cho đến ngày nay.
Tóm lại, một trong những chủ trương chính của CSVN khi tổ chức tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 nhắm làm tiêu hao tiềm lực của hành chánh và quân đội VNCH, quân đội Hoa Kỳ, và cả MTDTGP trong kế hoạch xâm lăng miền Nam. Cần chú ư là kế hoạch bành trướng của các đảng cộng sản, từ Cộng sản thế giới đến Cộng sản Việt Nam, đều được tiến hành qua ba giai đoạn: thứ nhất là thâm nhập, thứ hai là khủng bố và phá hoại, thứ ba là thống trị.
Chủ trương giết tiềm lực của CSVN trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 nằm trong giai đoạn thứ hai của kế hoạch bành trướng của CSVN. Phải thẳng thắn thừa nhận là CSVN đă thành công phần nào trong chủ trương nầy. Tuy nhiên, chủ trương giết tiềm lực lại đưa đến một hậu quả tai hại nặng nề cho đất nước. Đó là kế hoạch giết tiềm lực đă làm kiệt quệ nhân tài, là những người có khả năng để xây dựng tương lai đất nước. V́ vậy, chủ trương giết tiềm lực của CSVN là tội diệt chủng hết sức thâm độc, gây nguy hại lâu dài cho đất nước. Cộng Sản Việt Nam đúng là tội đồ của dân tộc.
TRẦN GIA PHỤNG
(Washington DC, 27-4-2008)