Vào năm 1988, tôi được Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam miền Nam Cali mời nói chuyện về đề tài “Giới Trẻ Việt Nam bước sang Thế Kỷ 21”. Trước ngày nói chuyện, đang đi ở phố Bolsa th́ gặp ông Đỗ Ngọc Yến, sau mấy câu thăm hỏi tôi được ông mời buổi chiều lại pḥng sinh hoạt của báo Người Việt để dự lễ húy nhật một trăm năm Cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu (1822-1888). Dĩ nhiên tôi nhận lời ngay v́ xưa nay vẫn ngưỡng mộ ḷng yêu nước của cụ Đồ.
Hơn một trăm năm về trước, chúng ta có gương mặt bất khuất của Đại Thi hào miền Nam là cụ Đồ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Cụ bị mù ḷa năm 26 tuổi nên không có cơ hội gánh vác việc non sông, chống quân Pháp xâm lăng đất nước. Nhưng Cụ vẫn làm công việc của Kẻ Sĩ, mở trường dạy học, sáng tác thi văn ngụ ư khuyên răn người đời. Cụ Đồ Chiểu lại c̣n bàn luận việc cứu nước với một số nho sĩ tiết tháo như các cụ Phan Văn Trị, Hồ Xuân Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa. Khi nhân dân miền Nam nổi lên kháng chiến th́ Cụ hết ḷng hỗ trợ. Những lănh binh như cụ Trương Định, mỗi khi điều binh đều hỏi ư kiến và tôn Cụ là quân sư.
Tham dự buổi lễ tưởng niệm ngày hôm ấy, tôi đă đọc câu sau đây trong bài “Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh” của cụ Đồ Nguyễn Đ́nh Chiểu, để mọi người thấy đất nước thời Cụ chẳng khác ǵ thời điểm miền Nam khi Cộng sản xâm chiếm:
“Kể mười mấy năm trời khốn khổ, bị khảo, bị tù, bị đầy, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên.
Đem ba tấc hơi mỏn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.”
Đúng vậy, hàng trăm ngàn quân-cán-chính miền Nam đă bị đầy ải, tra khảo, giết chết trong những trại tù Cộng sản từ Nam ra Bắc. Cả hàng triệu người phải ĺa bỏ quê hương để đi t́m tự do. Biết bao người chết trong rừng sâu hay bỏ thây ngoài biển cả. Cuộc vượt biển đă làm chấn động lương tâm nhân loại ở thế kỷ 20.
Thí dụ trên cho ta thấy rằng những đại thi văn hào của nước ta, hay trên thế giới, những lời viết ra, có khi qua hàng trăm năm sau lại có dịp được nổi bật lên cho chúng ta thấy giá trị câu văn vượt thời gian. Ngay cả cuốn truyện thơ b́nh dân “Lục Vân Tiên” cụ hàng ngày đọc ra cho học tṛ chép lại, nay nhờ có nhà thơ Nguyễn Bính lấy mấy chữ “Mười Hai Bến Nước” dùng làm đề cho một tập thơ của ḿnh mà nguời ta mới khám phá ra rằng lấy ở trong hai câu thơ thật trữ t́nh trong Lục Vân Tiên là:
“Lênh đênh một chiếc thuyền t́nh,
Mười hai bến nước đưa ḿnh vào đâu?”
Buổi chiều đầu Thu năm 2008, tức là hai mươi năm sau, tôi lại c̣ dịp được tham dự và ngỏ lời trong một buổi họp văn hoá do “Văn Đàn Đồng Tâm” tổ chức ở miền Bắc Cali, trong hội trường có những bậc tài danh như thi bá Hà Thượng Nhân, và cũng có sự hiện diện của người khởi xướng và dẫn dắt Văn Đàn Đồng Tâm là giáo sư Doăn Quốc Sỹ. Những vị này là trong số những thi văn hào tôi vừa kể ra, là một sáng tác, hay một câu văn, viết ra hay chỉ nhắc lại mà làm thành vĩnh cửu, được đời đời nhắc đến.
Nhắc ñeán nhà thơ Hà Thượng Nhân là ta nghĩ ngay đến mục “Đàn Ngang Cung” của nhật báo Tự Do khi xưa nhưng ta nên biết là nhờ thi sĩ mà mấy lời phê của Phủ đường trong Truyện Kiều:
“Thôi đừng rước dữ, cưu hờn,
Làm chi lỡ dịp cho Đờn Ngang Cung”
nay được phổ thông nhắc đến mỗi khi thấy sự việc ngang trái.
Cũng như vậy, nhắc đến nhà văn Doăn Quốc Sỹ người ta có thể liên tưởng đến “Ǵn Vàng Giữ Ngọc”, và chỉ mượn nhóm chữ này làm đề tài bài viết, mà ông đă làm người ta nhớ đến rằng thi văn hào Nguyễn Du đă từng viết trong Truyện Kiều:
“Ǵn Vàng Giữ Ngọc cho hay,
Cho đành ḷng kẻ chân mây cuối trời” .
Những nhà văn, nhà thơ được yêu chuộng, đôi khi dùng một từ ngữ nào có sẵn trong dân gian, đă như có một phép nhiệm mầu làm cho những câu những chữ đó nổi bật lên trong kho tàng văn học. Mấy câu Ǵn vàng giữ ngọc là của Kim Trọng nhắn nhủ Thúy Kiều truớc khi chàng lên đường. Chắc chúng ta cũng muốn biết là nàng Kiều đă trả lời ra sao, th́ nay tôi xin thưa rằng Kiều đă thề nguyện:
“Đă nguyền đôi chữ Đồng Tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”
Hai chữ ôm cầm là lấy ở trong bài “Tỳ Bà Hành” của Bạch Cư Dị đời Đường là “khẳng bả tỳ bà quá biệt thuyền”, nghĩa là “sao nỡ ôm đàn tỳ bà qua thuyền khác”. Dùng đôi chữ “Đồng Tâm” để đặt tên cho văn đàn là những người khởi xướng muốn cho chúng ta cùng chung ḷng nâng đỡ những cây viết trẻ và noi theo truyền thống văn hoá tốt đẹp của những người đi trước. Nói một cách khác mục đích tối hậu của chúng ta, những người cùng chung ḷng phụng sự văn hoá, là ǵn giữ cho tiếng Việt được ngàn đời phong phú trên mặt địa cầu đa chủng này.
Trong ngạn ngữ, dù là ở phương Đông hay là dưới trời Tây thường có những câu ví von là những người giống nhau th́ lại t́m đến nhau. Cùng ở trong một văn đàn, chúng ta chung ḷng, cùng một chữ Tâm, và v́ vậy nên hiểu là chữ Tâm ở đây không chỉ có nghĩa là tấm ḷng, mà phải là tấm ḷng sắt son cùng theo một mục đích cao cả. Theo một bài viết mới đây của giáo sư Lê Hữu Mục, một vị cố vấn trong Văn Đàn, phải hiểu như người có tài th́ mới thấy được cái tài của người có tài, người có nhân tâm th́ mới thấy được cái nhân tâm của người có nhân tâm. Và v́ vậy nơi đây, chúng ta là người cùng có tâm huyết mới t́m đến nhau. Theo giáo sư, chính cái chữ "Tâm" đă được thi hào Nguyễn Du dùng làm chuẩn trong thơ của ông. Chữ Tâm, tuy không được nhắc đến nhiều trong Truyện Kiều như chữ Tài, chữ Mệnh, nhưng đặt ở đoạn nào cũng nặng ư nhắc nhở một cách ân cần. Câu đầu tiên của Từ Hải nói với Vương Thúy Kiều là:
“Từ rằng: Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?”
có nghĩa là lấy tấm ḷng hiểu nhau mà đối với nhau. Sau này cũng vẫn lời Từ Hải nói thêm khi từ biệt ra đi làm việc lớn:
“Từ rằng: Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường t́nh?”
nghĩa là đă hiểu được ḷng của nhau rồi th́ nên để sang bên những chuyện thường t́nh.
Theo Nguyễn Du th́ nàng Kiều là người có tâm, nghĩa là có ḷng, ḷng hiếu và ḷng thành. Trước hết theo lời đạo cô Tam Hợp, có lời khen
“Lấy t́nh thâm, trả nghĩa thâm,
Bán ḿnh đă động hiếu tâm đến trời!”
và sau đó Đạm Tiên cũng phải than rằng:
“Chị sao phận mỏng đức dầy,
Kiếp xưa đă vậy, ḷng này dễ ai!
Tâm thành đă thấu đến trời,
Bán ḿnh là hiếu, cứu người là nhân.”Tôi tuy là một cố vấn trong Văn Đàn, nhưng là người mới gia nhập. Tuy vậy tôi có thể nói là người có nhiệt tâm, v́ làm công việc văn hoá c̣n ǵ có ư nghĩa hơn và đúng đường lối hơn là theo như chủ trương của Văn Đàn là nâng đỡ những cây viết trẻ và noi theo gương sáng của những người đi trước. Đó là ư nghĩa của chữ Tâm trong Văn Đàn Đồng Tâm. Cái giá trị của chữ Tâm cũng đă được Đại Thi Hào Nguyễn Du gom lại trong hai câu thơ mà tôi nay nhắc lại như là những câu kết cho bài viết này:
“Thiện căn ở tại ḷng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.”