Thầy C̣n Nhớ Tôi Không?
Ngày 2/06/2009 - Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

Tuesday, May 19, 2009

Mới đây khi đọc một tờ báo xuất bản ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ, một bài viết về “Trường cũ”, tôi thấy được tác giả nhắc tới rằng khi xưa tôi là một học sinh hiền lành. Cho đến bây giờ tôi vẫn được bạn bè cho là một người hiền. Chỉ có nhà tôi thỉnh thoảng lại nói “Anh mà là người hiền!”

Một điều cố hữu với tôi là đối với các vị lớn tuổi hơn, với các thầy và cô giáo, cũng như các vị tu hành, tôi thưa gửi rất lễ phép. Những điều này tôi làm rất tự nhiên, từ hồi c̣n nhỏ đến giờ, không bao giờ thay đổi. Khi c̣n ở bậc tiểu học, tôi được học trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư, chuyện ông Sadi Carnot (1837-1894), là tổng thống cộng ḥa Pháp vào năm 1887 khi trở về làng tới thăm thầy học cũ và nói rằng: “Tôi là Carnot đây, thầy c̣n nhớ tôi không?”. Tôi không c̣n nhớ là thầy dạy tôi lúc bấy giờ b́nh luận chuyện này ra sao, nhưng đối với tôi, thực t́nh tôi cho chuyện này không có ǵ đặc biệt, giá trị luân lư so với những chuyện khác của người Việt Nam chúng ta như sự tích Lưu B́nh-Dương Lễ (kể thêm cả Châu Long) thật là kém xa.

Từ ngày sống nơi khách địa, tôi mới nhận thức được lư do chuyện ông Carnot được kể ra như một gương sáng đáng noi theo cho người Tây phương. Tôi đă nh́n thấy những người học tṛ, sau này tiến bộ hơn ông thầy, không những quên những ngày được dạy dỗ mà có khi c̣n lên tiếng chê bài thầy kém cỏi. Ở trong bất kỳ một công hay tư sở, trong kỹ nghệ, trường học, hay ở trong hệ thống chính quyền trên đất nước này, thế nào cũng có những người trẻ ở cấp bậc điều khiển, những người này tất nhiên đă có lần vượt lên trên những người trước kia quản lư hay chỉ dẫn cho ḿnh. Tôi không biết họ c̣n nói được những câu ân t́nh với những người đă huấn luyện cho ḿnh hay không.

Riêng tôi th́ được may mắn trong t́nh bè bạn, có lẽ v́ sự giao du thân mật của tôi chỉ giới hạn với những người tôi cho là hiền lành. Tôi ở trong quân đội mười bốn năm, sau này dạy học khoảng ba mươi năm, gặp những bạn bè và học tṛ cũ bao giờ tôi cũng thấy thoải mái. Nghĩa t́nh đối với những cựu chiến hữu xưa kia cùng chiến đấu dưới một bóng cờ, tôi đă nói đến nhiều trên sách báo. Giờ đây tôi viết về kỷ niệm với học tṛ cũ.

Một lần tôi ghé qua San Jose, một tỉnh ở miền Bắc Cali, bạn bè mời tôi tới dự một dạ hội. Một vị khách tới chào và nói: “Em là Hải Quân Đại Tá Trần Thanh Điền, trước kia học toán với giáo sư ở Petrus Kư”. ĐạiTá Điền trước đây là giới chức cao cấp ở phủ Tổng Thống th́ ai cũng biết. C̣n tôi trước kia có dạy học vài tháng ở trường trung học Petrus Kư, th́ thật ít người biết. Tôi thật không ngờ trong những học sinh trẻ thời ấy có những người sau này nổi tiếng trong vơ nghiệp. Ở miền Bắc Cali có tuần báo Việt Mercury là một tờ báo được nhiều người đón đọc. Khi nhận được bài viết đầu tiên tôi gửi tới, ông tổng thư kư đă điện thoại ngay và nói: “Em là Nguyễn Xuân Hoàng, trước học Petrus Kư. Em rất mừng nhận được bài của thầy”. Ông Hoàng lúc đó cũng là giáo sư thỉnh giảng ở Đại Học California, Berkeley. Vậy là tôi tốt số, có môn sinh thành đạt ở cả hai ngành văn và vơ.

Cũng về văn, cựu học sinh trường Vơ Tánh ở Nha Trang là nơi tôi đă từng dạy mỗi tuần vài giờ theo lời yêu cầu của bộ Quốc Gia Giáo Dục và sự chuẩn y của bộ Quốc Pḥng khi tôi mới ở Pháp về và nước nhà c̣n thiếu nhiều giáo sư Toán có bằng cấp đại học, những học sinh đă theo học lớp tôi dạy có anh Trần Huỳnh Châu sau này là công chức cao cấp trong chính phủ. Học tṛ cũ ở Vơ Tánh c̣n có anh Lư Văn Thành, cũng là cầu thủ bóng tṛn xuất sắc ở trường, sau này trong quân đội là sĩ quan liên lạc Việt Mỹ. Sang Hoa Kỳ sau khi đi cải tạo về, anh viết hồi kư bằng tiếng Anh. Khi đă đăng vài chương trên phụ trương Anh ngữ của báo Người Việt, anh được mấy nhà xuất bản Mỹ chú ư tới và mời anh kư giao kèo để họ xuất bản thành sách. Sách của anh Thành có lời đề tựa của một trung tướng thủy quân lục chiến Mỹ, và tôi cũng viết mấy lời giới thiệu. Tôi đă viết anh là người đôn hậu và tính t́nh chung thủy. Khi xưa, trên sân cỏ, khi đă đưa banh qua hàng hậu vệ, anh đá thẳng như sấm sét vào khung gỗ. Giờ đây viết sách kể lại chuyện vinh quang trong quân ngũ và buồn tủi trong ngục tù, chuyện xảy ra sao, anh kể lại một cách trung thực, đi thẳng và mạnh vào tâm hồn người đọc, như đường banh khi xưa của anh đi thẳng vào lưới. Tuy tôi chỉ dạy có một niên học ỏ Vơ Tánh nhưng lại có nhiều t́nh thầy tṛ sâu đậm với trường. Thỉnh thoảng tôi lại được đọc trên báo hay những đặc san những bài nói về Nha Trang và trường cũ của những cựu học sinh và đôi khi thấy tên ḿnh được nhắc tới.

Miền thùy dương cát trắng cũng là nơi đă cung cấp nhiều nhân tài cho nền văn học Việt Nam ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Trong bộ môn thơ, một người đă đưa thi phẩm của ḿnh ra giới thiệu ở diễn đàn thơ quốc tế là Hải Bằng Hoàng Dân B́nh. Là hội viên của Hội Thi Sĩ Quốc Tế, năm 1998 anh đă tŕnh đọc bài thơ “Render unto Me That Which Is Mine” (Hăy Trả Lại Cho Ta) tại đại hội thường niên quy tụ khoảng một ngàn hội viên đến từ các nơi trên thế giới. Tôi nhận được tập thơ “Hương Yêu” của anh, xuất bản năm đầu thiên niên kỷ mới với lời kư tặng nhớ lại t́nh thầy tṛ xa xưa. Trong tập thơ, chứa đựng nhiều bài hay đẹp tuyệt vời, và đă được Học Giả Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm giới thiệu và khen tặng nhiệt liệt, Hải Bằng đă trải rộng tâm t́nh trên quê hương, với thân hữu và gia đ́nh, bằng những vần thơ thắm đậm t́nh người. Qua những lời giới thiệu trong cuốn sách, tôi chỉ biết là sau khi học ở Vơ Tánh, Hoàng Dân B́nh, cậu học sinh mà tôi nhớ khi xưa trông hiền lành, sau này về Sàig̣n theo học Luật Khoa và sau khi tốt nghiệp đă dạy học nhiều năm trước khi được động viên và trở thành sĩ quan như bao nhiêu chàng trai trẻ khác thời tao loạn. Mới đây, trong dịp tôi tới Wilmington thuộc tiểu bang Delaware để làm diễn giả danh dự tại Đại Hội Lưỡng Niên các chuyên gia gốc Á Châu của hăng Dupont, nơi đó gần thành phố Philadelphia là nơi anh cư ngụ, Hải Bằng đă tổ chức một buổi hội ngộ để tôi gặp anh và gia đ́nh cùng một số thân hữu. Qua bữa ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố người Việt, gặp mấy vị lănh đạo cộng đồng ở địa phương và những vùng lân cận, và kư giả Thomas Toan Le của Asian News, tôi được biết thêm là từ khi tới Hoa Kỳ theo diện H.O. năm 1992, anh đă tích cực đóng góp vào sự xây dựng cộng đồng cho thêm tươi sáng. Các con trong gia đ́nh anh chị đều thành đạt và noi gương cha mẹ có ḷng hiếu kính với các bậc tôn trưởng.

Bạn đọc chắc không mấy người biết là nhà thơ tên tuổi Du Tử Lê trước kia cũng là học sinh Chu Văn An khi tôi đang dạy ở đó. V́ vậy anh vẫn quen lệ gọi tôi là thầy mỗi khi gặp nhau ở những sinh hoạt văn nghệ. Thơ của Du Tử Lê không những có nhiều bài được phổ nhạc mà lại có nhiều bài được dịch sang Anh ngữ. Tôi luôn luôn mong mỏi nhân tài của ḿnh ở mọi ngành khoa học, kỹ nghệ và nhân văn được các sắc dân khác trên nước này chú ư đến. Nếu chúng ta chỉ quần tụ với nhau trong một khung khép kín, kể cả sự luân lưu kinh tế, th́ thật không thể tạo nên một sức mạnh nào có ảnh hưởng tới tương lai của đất nước.

Tôi lấy một thí dụ dễ hiểu về ảnh hưởng của cộng đồng kiều dân vào quốc gia cư ngụ. Hồi Tháng Năm 1996 tôi được mời tới Hoa Thịnh Đốn để nhận giải Excellence 2000 Award của United States Pan Asian American Chamber of Commerce. Trong những người được vinh danh có nữ tài tử Joan Chen, người đóng vai chính trong phim “The Last Emperor” và ông Harry Wu là một người Trung Hoa tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng quốc tế. Ông Harry Wu bị nhà cầm quyền Trung Cộng giam giữ 19 năm, từ 1960 tới 1979. Năm 1985 ông được đại học California ở Berkeley mời sang làm giáo sư thỉnh giảng về môn Địa Chất Học. Những sách ông viết trong thời gian ở Hoa Kỳ như “Laogai - The Chinese Gulag” và “Bitter Winds” đă nói lên sự đàn áp nhân quyền một cách tàn bạo ở Trung hoa lục địa. Năm 1995 ông trở về nước và bị Cộng Sản bắt ngay, đưa ra ṭa, xử 15 năm tù giam. Sau đó, v́ áp lực của nhiều chính phủ và đoàn thể trên thế giới mà Trung Cộng phải trả tự do cho ông, để ông trở sang Hoa Kỳ, bây giờ là một nghiên cứu gia ở Viện Hoover thuộc Đại Học Stanford. Ông Harry Wu đă được trả tự do, thường xuyên được phỏng vấn trên đài truyền h́nh mỗi khi có việc đáng quan ngại, xảy ra ở lục địa Trung Quốc; một phần là ông có quá tŕnh tranh đấu cho nhân quyền, đă diễn thuyết ở nhiều nơi và viết sách được nhiều người đọc, nhưng phần chính là cộng đồng người Hoa chống cộng của họ có ảnh hưởng mạnh ở các quốc gia họ cư ngụ.

Trở lại với Du Tử Lê, thơ dịch của anh đă được đăng trên Los Angeles Times và New York Times. Chúng ta cần có rất nhiều người như anh, ở đủ mọi ngành, văn học, kinh doanh, kỹ thuật, giáo dục,... ḥa nhập vào cuộc sống hàng ngày trong những xă hội ḿnh sinh sống. Mỗi lần được tin người Việt bay Boeing 727 cho hàng không dân sự, bay F-16 cho quân đội, hay một phụ nữ làm quản lư cho một công ty lớn, một chuyên gia giải phẫu người Việt đă chỉnh nghiệm được một phương pháp tân kỳ là tôi thấy có niềm vui trong ḷng. Tôi mong có ngày nh́n thấy thường xuyên nữ xướng ngôn viên người Việt trên những đài truyền h́nh và những tên họ Nguyễn, họ Trần kư dưới những bài b́nh luận đăng trên những tuần báo Time và Newsweek. Du Tử lê gửi cho tôi mấy cuốn sách mới của anh, kèm theo một lá thư anh viết, đề ngày mồng Một Tết năm Đinh Sửu. Tuy chỉ kém tuổi tôi một giáp, nhưng anh vẫn xưng ḿnh là “con”, như tôi vẫn thường xưng như thế khi hàng năm viết thư thăm hỏi các thầy cô khi xưa dạy ḿnh ở những lớp trung và tiểu học.

Họ tṛ ngoại quốc của tôi cũng khá nhiều, và có nhiều người có chức vụ quan trọng. Có một lần tôi đi cùng với một ông mục sư Mỹ tới nhà một bà bác sĩ để nhận một ít đồ đạc trợ giúp cho gia đ́nh một chiến hữu mới tới định cư ở tỉnh tôi. Bà bác sĩ này dọn đi tỉnh khác nên định cho bớt đi một ít vật dụng trước khi xe chuyên chở tới dọn nhà. Sau khi trao đổi ít lời, bà cho chúng tôi gần hết những đồ đạc ở appartment của bà và nói rằng: “Tôi độc thân nên cũng không cần nhiều đồ bằng gia đ́nh này”. Ông mục sư nói riêng với tôi: “Những đồ này sang quá! Khi nào nhà có khách, tôi tới mượn lại dùng ít ngày”. Khi nghe bà mạnh thường quân này nói là có một đứa cháu cưng vừa được nhận vào học tại trường đại học nổi tiếng Purdue University, tôi nảy ra một ư kiến. Tôi xin bà bác sĩ một mảnh giấy với cái phong b́, viết mấy chữ đưa cho bà và nói rằng: “Thư này để gửi cho một học tṛ cũ của tôi là giáo sư Đại Học Purdue. Nếu cần ǵ, cháu bà cứ mang thư này tới, người bạn tôi sẽ hết sức săn sóc cho cậu cháu.” Tôi chắc bà không tin tưởng cho lắm ở bức cẩm nang tôi đưa cho bà, và nếu bà bác sĩ có mở thư ra đọc th́ trên đó tôi chỉ viết hàng chữ ngắn gọn: “Jim thân mến. Đă có một lần gia đ́nh cậu sinh viên này giúp tôi môt việc. Tôi mong rằng anh và Holly săn sóc cậu ta trong thời kỳ học ở West Lafayette”. Riêng tôi th́ tôi tin chắc là người học tṛ cũ của tôi và bà vợ anh ta sẽ hết sức giúp cho cậu sinh viên Mỹ nếu được nhờ tới. Anh là người bạn hiền và chung thủy với tôi. Nếu không th́ xưa kia tôi đă không nhận anh làm môn đệ.

Một lần tôi nhận được điện thoại từ văn pḥng ông khoa trưởng khẩn khoản nhờ tôi giúp cho một việc. Một công ty lớn ở tiểu bang tôi vừa nhận được một công việc có tầm vóc ở Đài Loan và họ đang chuẩn bị đón tiếp một vị chủ tịch công tŕnh này, cũng là một ông trung tướng Không quân, sang để duyệt xét trước khi kư giao kèo. Ông này là Tiến Sĩ Trần Bang Đạt, trước kia tốt nghiệp ở Đại Học Michigan là trường tôi dạy, và có theo học tôi nhiều lớp. Ông đánh điện sang và ngỏ ư muốn trở lại thăm trường và gặp lại tôi. Ông chủ tịch công ty liên lạc với ông khoa trưởng v́ họ là bạn bè với nhau. Ông khoa trưởng giao lại công việc cho tiểu ban ngoại vụ và họ nhờ lại tôi tiếp đón người học tṛ cũ và mời ăn trưa thịnh soạn, họ sẽ thanh toán mọi phí tổn. Tôi nhận lời, và v́ bà Jean Trần (Cheng) là vợ của người học tṛ cũ của tôi cũng đi theo chồng sang lần này, nhân tiện thăm mấy con trai của họ đang học ở Hoa Kỳ, tôi nhờ nhà tôi đặt một bữa ăn ở một pḥng riêng tại một khách sạn của đại học. Tôi cũng mời vào khoảng 20 sinh viên cao học người Đài Loan tới dự để gặp giới chức cao cấp của họ. Tới giờ hẹn ông bà Bang Đạt tới thăm chúng tôi ở nhà riêng. Công ty Mỹ đă thuê một chiếc limousine thật dài để đưa đón họ. Khi chúng tôi tới pḥng ăn, người khách phương xa nhất định mời tôi ngồi vào ghế chủ tịch, hướng ra ngoài. Tuy chuyện tṛ thân mật, nhưng anh vẫn một niềm lễ phép theo lề lối Á Đông, dầu rằng hiện nay anh quản lư một chương tŕnh hàng mấy trăm triệu Mỹ kim mỗi năm.

Cách đây mấy năm, vào năm 1989, nhân dịp đi họp ở Viện Hàn Lâm Hàng Không và Không Gian của Pháp, tọa lạc ở Toulouse, một người bạn học cũ ở trường Sĩ Quan Không Quân Pháp là Bác Sĩ Đặng Vũ Hùng khi nghe tin tôi qua Ba Lê, đă cho mấy người bạn Pháp cùng khóa biết. Một người bạn đồng khóa khác là Đại Tướng Guéguen, lúc đó là tư lệnh Pḥng Không của Pháp, đă mời tôi đến thăm bản doanh của ông và ăn trưa cùng một số sĩ quan trong bộ tham mưu của ông. Một ông trung tướng, học khóa sau, khi bắt tay tôi, đă hỏi: “Chắc ông không c̣n nhớ tôi?”. Ông ta định nói là ngày xưa xưa, khi ở quân trường, tôi cũng đă hành ông rất nhiều. Tôi xin nói lại là tôi là con người rất hiền, xưa nay không hề cậy thế bắt nạt ai bao giờ. Chắc bạn đọc không có thể nghĩ rằng Đại Tướng Guéguen, phi công khu trục Mirage, lại là người rất thấp, chỉ cao bằng tôi mà thôi. V́ thế khi xưa, đứng theo hàng ngũ cao thấp của brigrade sinh viên sĩ quan, ông lúc nào cũng đứng cạnh tôi. Trước khi từ biệt ra về, tôi và ông chụp chung một bức h́nh kỷ niệm, trước chiếc phi cơ đặt gần cổng. Ông đội mũ cát kết, c̣n là một đại tướng Không Quân hiện dịch, tôi để đầu trần, nay là người dân sự, trông trong bức h́nh, ông hơi cao hơn tôi một chút.

Tôi cũng có nhiều học tṛ là sĩ quan Không Quân Hoa Kỳ. Đặc biệt có một người tôi chú ư đến hơn cả là anh Fred Frostic. Thời điểm 68-70 khi học tôi, anh là thiếu tá phi công F-4C Phantom. Sau này anh lên đại tá chỉ huy một không đoàn F-16. Một dạo tôi nghe tin anh đă rời quân đội và trở thành chuyên gia nghiên cứu ở Rand Corporation là cơ quan nghiên cứu chiến lược có uy tín ở Hoa Kỳ. Mấy năm sau này tôi không được tin của Fred. Cuối mùa đông năm ngoái, tôi nhận được bản tin hàng tuần loan báo có buổi nói chuyện với phân khoa chúng tôi mà diễn giả là “Fred Frostic, Deputy Assistant Secretary of Defense”.

Chức vụ này rất lớn. Trước đó mấy tháng, đại hội năm 96 của hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Mỹ đă mời được một vị khách đặc biệt là ông Sid Lawrence J. Goffney, Jr. cũng có chức vụ tương đương là Deputy Assistant Secretary of Commerce, thuộc bộ Thương Mại đến làm diễn giả đặc biệt. Tôi đă nói chuyện với ông và được biết trách vụ của ông thật rộng lớn. Điều này thực không lạ v́ chính phủ liên bang Hoa Kỳ có trách nhiệm trên 51 tiểu bang và ảnh hưởng nhiều đến thế giới. Được tin ông Frostic tới nói chuyện tôi đă hỏi vị giáo sư bạn phụ trách mời các vị diễn giả hàng tuần th́ ông ta nói đúng là anh Fred, cựu sinh viên mà, trong văn thư trao đổi, ông thứ trưởng bộ Quốc Pḥng này có nói trước kia làm khảo cứu với tôi.

Theo thường lệ, th́ diễn giả được mời, hay tới trường tôi vào khoảng 10 giờ sáng để gặp gỡ và thảo luận với một số giáo sư cùng chuyên môn khảo cứu. Sau đó th́ một số sẽ cùng với khách phương xa và giáo sư phụ trách mục diễn thuyết hàng tuần tới câu lạc bộ giáo sư để ăn trưa trước buổi diễn thuyết ấn định vào buổi chiều.

Sáng hôm sau tôi đến trường như thường lệ, vào khoảng 9 giờ. Cửa pḥng học của tôi bao giờ cũng mở. Tôi nhớ đến chàng thiếu tá Không Quân khi xưa, phi công khu trục Fantom F-4C, khá bảnh trai, tuy hoạt bát nhưng thật ra hiền lành. Đó là theo ư nghĩ của tôi, v́ tôi cũng đă đối xử với anh trong t́nh bạn, giữa những người đă cùng bay bổng trên mây trời. Như Đại Tá Trần Thanh Điền, như Ông Trung Tướng Không Quân Trần Bang Đạt ở Đài Loan, như nhà thơ Du Tử Lê, như ông Giáo sư ở Đại Học Purdue và nhiều người khác nữa tôi đă gặp và tôi coi như trong t́nh bằng hữu. Tôi tin rằng ông Frostic khi tới trường thế nào cũng sẽ t́m gặp tôi.

Đúng như vậy, vào khoảng hơn mười giờ sáng, tôi thấy anh tới pḥng, chào và nói một câu tôi nghe quá quen thuộc. Dịch ra tiếng Việt th́ anh đă nói: “Tôi là Frostic đây, thầy c̣n nhớ tôi không?”

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

Trích trong tập truyện “Vui Đời Toán Học”

dự trù xuất bản năm 2009.

 

Số lượt truy cập
2139385

Site by IT Experts
© Copyright 2005 HuongDuong.com.au
All right reserved.