Đường Trời Muôn Vạn Nẻo (phần 2)
Ngày 2/06/2009 - GS Nguyễn Xuân Vinh

Nhưng lư thuyết này chỉ là lư thuyết sơ khai. Đáp số của bài giải lại rất giản dị. Chẳng hạn lấy thí dụ hàm số nhiệt độ trong một ngày nào đó, ta có được ngay kết quả là lúc 2 giờ 48 phút buổi chiều có nhiệt độ cao nhất là 760 và ban đêm vào lúc 3 giờ 15 phút buổi sáng, nhiệt độ xuống thấp nhất là 520 F. Có một mô h́nh một miền đồi núi nào, dùng chương tŕnh điện toán có thể tính ngay ra, chẳng hạn toạ độ (x0, y0) của điểm cao nhất, z0 = 3452 mét và tọa độ (x1, y1) của điểm thấp nhất với cao độ là z1 = 218 mét.

Bạn đọc có thể hỏi: “Vậy th́ phép tính biến thiên khác ở điểm nào?” Ta có câu trả lời bằng cách coi lại đường cycloid ở H́nh 4. Dọc theo đường này, bắt đầu từ điểm O là điểm cao nhất, xuống tới điểm A là điểm thấp nhất, ở mỗi vị trí của ṿng tuột, ta vẽ đường tiếp tuyến với đường cycloid. Đường này cho biết hướng đi của cái ṿng. Muốn chứng minh rằng đường này là đường tuột dốc nhanh nhất, ta phải liên tục tính độ dốc ở mỗi thời điểm rồi dùng độ dốc lư tưởng, nghĩa là độ dốc tối ưu rồi cho vào phương tŕnh chuyển động của cái ṿng để tính thời gian tuột xuống điểm A. Sau đó phải so thời gian này với thời gian tuột dốc theo bất kỳ một đuờng nào để chứng tỏ thời gian theo đường cycloid là thời gian ngắn nhất. Nói tóm lại, phép tính cực đại và cực tiểu thông thường chỉ cần cho đáp số ở một điểm, là điểm cho trị số cực đại hay cực tiểu của một hàm số. Trái lại phép tính biến thiên được dùng để tính một cách liên tục đáp số ở bất kỳ một điểm nào, nghĩa là từ đầu cho tới cuối, bài tính sẽ phức tạp hàng trăm ngàn lần. Chính v́ thế mà những chuyên gia tính toán bằng điện toán, họ giải quyết bài toán tuột dốc như sau. Dĩ nhiên lúc đầu họ không biết đường cycloid nhưng tạm coi là có một đường gấp khúc gồm có 100 đoạn thẳng ngắn nối liền với nhau đi từ O tới A. Đi từ đoạn này, sang đoạn nối tiếp, độ dốc lại lệch đi một chút. Sau đó dùng máy tính điện tử để cho một cách chớp nhoáng thời gian tuột dốc. Mỗi lần tính lại được một kết quả, chẳng hạn tính lần đầu được thời gian gọi là t1. Sau đó thay đổi chút ít các độ dốc theo chiều hướng để làm sao được thời gian ngắn đi gọi là t2 . Cứ như thế mà giảm dần, mỗi lần thêm hay bớt lại giảm đi được một khoảng thời gian Δt. Dĩ nhiên cho đến lúc không làm sao ngắn thời gian được nữa th́ cái biến thiên rất nhỏ này sẽ là δt = 0. Lối tính này cho lời giải một cách nhanh chóng, chi trong một chớp mắt đă vẽ được ra h́nh cycloid. Ch́ có một điều là bài giải không cho biết phương tŕnh toán học của đường giây này và theo đó không biết những tính chất h́nh học kỳ diệu của h́nh như đă nói trước đây.

Tôi lấy một thí dụ khác nữa để phân biệt phép tính cực đại và cực tiểu thông thường và phép tính biến thiên.

H́nh 8 cho ta thấy đạn đạo của một khẩu đại bác đặt ở đ́ểm O. Viên đạn lúc ra khỏi ṇng có một vận tốc ban đầu là V0 . Sau đó viên đạn chỉ bị sức hấp dẫn của trái đất và sức cản của không khí và sẽ theo một qũy đạo để rơi xuống đích ở một khoảng xa gọi là D. Tầm xa này tùy thuộc h́nh thể và cấu trúc của viên đạn v́ nó gây ra sức cản của không khí, và mặt khác tùy thuộc tỷ trọng của không khí trong ngày hôm đó.

(JPG)

V́ vận tốc ban đầu của viên đạn khi ra khỏi ṇng súng là V0 đă có sẵn , tầm xa lại c̣n phụ thuộc vào góc bắn của đại bác gọi là α như trên h́nh. Ta cũng có ư niệm tương tự khi dùng một ṿi nước để tưới một bồn hoa ở xa. Nếu góc bắn thật lớn, gần bằng 900 , th́ đường đạn sẽ đi thẳng lên trời và đạn rơi gần chỗ bắn. Nếu ta giảm dần góc bắn α (hay là góc tưới của ṿi nước) sẽ thấy tầm của cái đích xa dần dần. Nhưng khi đạt được một góc tối ưu nào đó mà được lợi tầm xa nhất, gọi là góc α* , th́ ta sẽ thấy hiện tượng là dùng góc nhỏ hơn α* sẽ không tốt mà dùng góc lớn hơn α* cũng không tốt. Lúc đó tầm xa không thể nào làm hơn đươc nữa và ta có sự biến thiên bằng số không, nghĩa là δD = 0. Nếu ta làm bài tính dản dị đi bằng cách bỏ ra ngoài sức cản của không khí và không để ư đến đường cong của trái đất th́ sẽ tính ra rất dễ dàng là α* = 450 . Đây là bài tính cực đại và cực tiểu thông thường. Đại bác chỉ dùng cho những tầm xa có giới hạn, chửng mười dặm trở lại. Muốn bắn phi đạn xa hơn nữa th́ phải cần một vận tốc ban đầu rất lớn. Theo bài tính giản dị, nếu không kể sức cản của không khí và đuờng cong của trái đất th́ tầm xa cực đại của đạn đạo cho bởi công thức

D = V02 / g

mà V0 là tốc độ ban đầu và g là độ gia tốc trọng lực với trị số là g = 9.81 m/giây-giây. Chẳng hạn nếu vận tốc ban đầu của viên đạn bằng vận tốc âm thanh nghĩa là V0 = 340 m/giây th́ tầm xa là D = 11 km 784. Nếu kể cả sức cản của không khí th́ tầm đạn cực đại này c̣n ngắn đi nhiều. Muốn chế tạo đại bác để bắn xa hàng trăm dặm hay bắn liên lục địa hàng mấy ngàn dặm th́ phải có thuốc nổ thật mạnh và chế tạo ṇng súng sao cho có được những vận tốc khổng lồ. Nhưng dù cho có đạt được những vận tốc thật lớn th́ cũng không thể bắn đi xa được v́ lẽ sức cản của không khí lại tỷ lệ theo với b́nh phương của vận tốc. Nếu tăng vận tốc lên hai lần th́ sẽ tăng sức cản lên bốn lần. Với sức cản lớn tầm xa của đạn đạo sẽ ngắn đi rất nhiều. V́ vậy, muốn bắn xa, người ta phải chế tạo hoả tiễn với lư thuyết chuyển động theo H́nh 9.

(JPG)

H́nh 9

Lúc mới đẩu hoả tiễn đứng yên ở giàn phóng ở điểm O. Sau khi khai hoả, hoả tiễn có một sức đẩy F lớn hơn trọng lượng W làm cho hoả tiễn bay lên từ từ. Vận tốc lúc đầu nhỏ và sẽ tăng dần. Điều này là một lợi điểm v́ sức cản của không khí, tượng trưng bởi lực A ở trên h́nh, tỷ lệ theo với tỷ trọng của không khí và b́nh phương với vận tốc. Ở dưới thấp, tỷ trọng của không khí c̣n lớn nên cần giữ vận tốc nhỏ để sức cản không lớn quá độ. Khi hoả tiễn đă lên cao, vào khoảng 15 km, tỷ trọng của không khí chỉ bằng một phần mười tỷ trọng trên mặt đất, vận tốc dù có lớn nhưng sức cản của không khí trên đạn đạo cũng không lớn quá hạn. Dùng nguyên lư động lực của Newton, người ta có thể tính qũy đạo gây ra bởi tổng hợp của ba lực là trọng lượng W, sức cản A và sức đẩy F. Sức đẩy của hoả tiễn tùy theo sự đốt cháy nhiên liệu trong động cơ và điều này đă được thử nghiệm trước. Như thế nghĩa là những kỹ sư chế tạo động cơ đă cho ta biết trước sức đẩy F như là một hàm số của thời gian, thay đổi theo từng phút, từng giây ra sao từ thời điểm ban đầu ở gốc toạ độ O cho tới điểm triệt hoả là điểm A, khi nhiên liệu cháy hết. Để tổng kết lại, qũy đạo của hoả tiễn tầm lớn hay liên lục địa nay chỉ c̣n tùy thuộc chiều hướng của sức đẩy F , biểu thị bằng góc gọi là θ ở trên H́nh 9. Nếu biết cách lựa chọn góc này để hướng dẫn đường bay của hoả tiễn th́ khi tới điểm triệt hoả là điểm A, lúc đó trên cao độ mấy chục cây số, tỷ trọng không khí gần như là số không và không c̣n sức cản lớn, hoả tiễn đạt được vận tốc khởi thủy V0 rất lớn và ở một góc bắn tuyệt hảo để sẽ theo đó mà đạt được tầm xa D cực đại. Góc θ gọi là phương của sức đẩy, không hẳn là cố định mà thay đổi theo với thời gian. Lấy lư mà suy th́ ta có thể nghĩ rằng góc θ lúc đầu rất lớn, gần như 900 để hỏa tiễn lên thẳng và dần dần sẽ nhỏ đi. Đây cũng là một bài tính có thể dùng máy điện toán để giải quyết một cách nhanh chóng. Các chuyên gia tính toán sẽ chia thời gian cháy nhiên liệu làm nhiều khoảng ngắn, chẳng hạn mỗi khoảng là 10 giây đồng hồ. Sau đó ước đoán phương cho θ cho mỗi khoảng, chẳng hạn 10 giây đầu dùng θ là 800 , 10 giây kế tiếp giảm xuống 750 vân vân ...Máy tính điện tử với siêu tốc độ sẽ cho trong khoảnh khắc quỹ đạo đi từ O đến A, cho biết vận tốc V0 , và góc bắn ở điểm A và sau đó tính luôn cả đạn đạo cho đến lúc chạm đất và được tầm xa gọi lả D1 . Sau đó dùng một chương tŕnh điện toán để thay đổi phương θ ở mỗi khoảng thời gian, hoặc thêm, hoặc bớt chút đỉnh, nhưng phải theo chiều hướng sao cho lần này tầm xa tổng cộng D2 có được phải lớn hơn lần trước, nghĩa là phải có số gia tăng ΔD = D2 - D1 có một trị số dương. Mỗi lần lập lại như thế tầm xa lại tăng lên chút ít và theo lẽ thông thường, khi tính đúng chiều hướng, sự tăng này lúc đầu khá lớn nhưng sau sẽ giảm đi dần dần. Khi không c̣n cách nào làm hơn được nữa, sự biến thiên sẽ là số không, nghĩa là δD = 0. Sự tăng rồi cũng tàn lụi dần, và qũy đạo tính được ra lần cuối cùng sẽ là qũy đạo cho hoả tiễn có tầm xa cực đại.

Giờ đây nếu bạn đọc coi lại hai câu thực trong bài “Bán Than” của Trần Khánh Dư, tôi đă để thêm dấu phẩy như sau:

“Ít, nhiều, miễn được đồng tiền tốt,

Hơn, thiệt, nài bao gốc củi tàn!”

chắc chắn bạn đọc sẽ hiểu thêm ư nghĩa của mấy câu thơ này.

Để kết luận chương này, tôi có thể nói là có hai chiều hướng để t́m ra qũy đạo tối ưu. Chiều hướng thực tế hơn cả là phép tính trực tiếp. Bằng cách này, những kỹ sư thiết kế những đường bay không gian kiến trúc một chương tŕnh để tính qũy đạo dựa vào một phép điều khiển dự đoán lúc ban đầu. Chẳng hạn khi tính tầm xa của phi đạn th́ dùng một phương θ (t) của sức đẩy, thay đổi với thời gian t, để cho lúc đầu th́ có độ lớn rồi nhỏ dần dần như đă tả ở trên. Sau đó lập lại phép tính lần thứ hai, rồi lần thứ ba, vân vân ... Mỗi lần tính phải thay đổi phuơng của sức đẩy chút ít nhưng sự thay đổi này cũng phải dựa vào một công thức toán học nhằm sao cho kết quả của phép tính phải tốt hơn lần trước. Như trong trường hợp tầm xa D của phi đạn th́ kết quả sau phải lớn hơn lần trước. Nếu là một chương tŕnh phóng phi thuyền không gian vào qũy đạo th́ vận tốc sau củng V0 ở điểm triệt hoả A phải đạt được mức tối đa với một số nhiên liệu hạn định trước. Sau nhiều lần tính liên tiếp mà khi thấy mức độ tăng trở nên không đáng kể th́ coi như là đă t́m ra lời giải cho bài toán.

Một chiều hướng thứ hai hoàn toàn dựa vào toán học thuần lư để viết ra những phương tŕnh cần thiết dựa theo nguyên tắc là theo qũy đạo tối ưu th́ sự biến thiên phăi là số không. Như đă nói ở trên, những phương tŕnh này được gọi là phương tŕnh của Euler và Lagrange. Phương pháp này được gọi là phương pháp gián tiếp. Gọi là gián tiếp có nghĩa là thay v́ tính thẳng ra qũy đạo tối ưu, người ta chỉ t́m cách t́m ra một chương tŕnh điều khiển, chẳng hạn phương θ(t) dưới dạng một hàm số của thời gian, với điều kiện cần thiết là hàm số này phải là phép giải của phương tŕnh Euler và Lagrange. Chỉ có một điều là phần viết ra phương tŕnh th́ dễ, nhưng đến lúc giải phương tŕnh, dù cho có dùng máy điện tử siêu tốc độ chăng nữa, cũng tốn nhiều th́ giờ để cho đáp số hội tụ một các chính xác.

Mấy Nhịp Cầu Treo

Tôi bắt đầu học Phép Tính Biến Thiên không phải để tính qũy đạo tối lợi mà v́ theo học môn H́nh Học Cao Cấp (Géométrie Supérieure) ở Đại học Marseille cách đây cũng đă trên bốn mươi năm. Môt bài toán được đặt ra vào những năm đầu của thế kỷ 18 khi phép tính biến thiên đang được xây dựng thành h́nh là bài toán sau đây:

“Trong một mặt phẳng, quy tụ theo hệ thống toạ độ thẳng góc Oxy, lấy hai điểm A và B. T́m ra đường cong chạy qua hai điểm này để làm sao khi quay chung quanh trục Ox, đường cong này tạo ra được một mặt tṛn xoay có diện tích chung quanh là một diện tích tối thiểu”.

(JPG)

Theo như H́nh 10, ta có thể thấy ngay rằng nếu nối A và B bằng một đường thẳng th́ sau khi quay chung quanh Ox, đoạn AB sẽ tạo ra một h́nh nón cụt tṛn xoay. Nếu gọi R1 là bán kính của ṿng tṛn vẽ bởi điểm A và R2 là bán kính của ṿng tṛn vẽ bởi điểm B, gọi d là độ dài của đoạn thẳng AB th́ diện tích của h́nh nón cụt tṛn xoay, gọi là S, sẽ cho bởi công thức: S = π d (R1 + R2)

với trị số của π là 3.14159 ...

Diện tích này lớn hơn diện tích S* là diện tích của đường cong giải đáp bài tính vẽ ở phía dưới đoạn thẳng AB. Muốn chứng tỏ rằng diện tích S không phăi là diện tích nhỏ nhất th́ ta so diện tích này với diện tích S1 gây ra bởi đường gấp khúc AIJB. V́ đoạn IJ nằm trên Ox, không gây ra mặt tṛn xoay, nên S1 là tổng số diện tích hai ṿng tṛn với bán kính R1 và R2 . Như vậy, ta có:

S1 = π (R12 + R22)

Ta dùng kư hiệu > để tỏ sự lớn hơn và viết rằng S > S1 , hay là

π d(R1 + R2) > π(R12 + R22)

Nếu lấy quy ước R1 là bánh kính lớn, nghĩa là R1 > R2 th́ ta sẽ thấy ngay là khi cho hai điểm A và B cách nhau khá lớn để cho d = R1 th́ bất đẳng thức viết trên đâyđược nghiệm đúng ngay. Ta kết luận là đoạn thẳng AB không gây ra diện tích nhỏ nhất.

Đường cong, là lời giải đáp, gây ra diện tích nhỏ nhất, như vẽ trên H́nh 10, gọi là đường Catenary , hay c̣n có thể gọi là đường dây treo. Gọi như thế này thật là đúng với ư nghĩa của h́nh v́ cũng như đường Cycloid được vạch ra bởi một điểm trên vành bánh xe lăn, ta có đường catenary bằng cách treo giữa hai điểm A và B một sợi giây đồng chất và thật mềm. Tuy có một dạng chung nhưng h́nh dáng của h́nh cũng thay đổi, vi cùng giữ nguyên một độ dài của giây mà nếu cho hai điểm A và B gần nhau th́ sợi giây trũng xuống và nếu dang rộng ra th́ sợi giây có h́nh soải dài.

Muốn giải bài toán này bằng phương pháp trực tiếp th́ ta chia đoạn giây phỏng đoán làm nhiều phần bằng nhau, mỗi phần thay bằng một đoạn thẳng rất nhỏ. Chẳng hạn nếu chia làm n phần th́ khi quay chung quanh Ox ta được một mặt tṛn xoay gồm có n mặt nón cụt. Ta tính được diện tích tổng cộng một cách dễ dàng. Sau đó thay đổi độ dốc của những đoạn giây kế tiếp để được một diện tích nhỏ hơn để cho đến lúc không làm nhỏ hơn được nữa là ta có được một h́nh treo của một sợi giây xích gồm n đoạn nhỏ. Dùng phép ngoại suy để vẽ đường giây cho tṛn trặn, ta có ngay được đường catenary. Nếu dùng phương tŕnh của Euler và Lagrange, để t́m lời giải th́ ta có được phương tŕnh của đường catenary viết theo hàm số

y = b cosh [ (x - a)/b ]

Kư hiệu cosh đọc là cosin hyperbol c̣n hai hệ số a và b là hai hệ số phải được lựa chọn để cho đường cong được biểu thị bởi phương tŕnh này chạy qua hai điểm A và B đă cho sẵn.

Đường giây treo cho bởi phương tŕnh trên dĩ nhiên đă được thực nghiệm trước khi tính chất toán học của h́nh được t́m ra. Nhà bác học người Ư là Galileo (1564-1642) mới đầu cho rằng đây là một h́nh parabol. Muốn có ư niệm của một h́nh parabol th́ ta tưởng tượng một h́nh đạn đạo trong chân không, loại bỏ sức cản của không khí như theo H́nh 8. Quay ngược h́nh parabol th́ có được một đường gần giống như h́nh giây treo. Đi lễ chùa, nh́n tượng Phật ta thấy những nếp áo trùng trước ngực, đó cũng là những h́nh ảnh gần đúng với đường catenary v́ cũng là những lớp vải treo.

Một h́nh ảnh đẹp cho ta khái niệm về đường catenary là h́nh giây treo của cây cầu Golden Gate ở thành phố San Francisco. Một điều đặc biệt nữa là lúc mới chăng giây thép qua những trụ đặt xuống ḷng bể th́ những sợi giây có h́nh catenary, nhưng sau này khi người ta dùng những sợi dây tḥng xuống để treo những nhịp cầu th́ đường giây treo là đường catenary tất nhiên phải đổi dạng. Những nhà toán học, dựa vào môn cơ học thuần lư và đặt giả thuyết là những nhịp cầu nhỏ này dài và nặng bằng nhau, và hơn nữa có trọng lượng lớn hơn của những sợi giây treo gấp bội, th́ h́nh của giây treo giũa hai đỉnh cột cầu lại thực sự là một h́nh parabol tức là h́nh quay ngược của đường đạn trong chân không. Bạn đọc có thể nh́n thấy một cách khái quát h́nh parabol khi ném ḥn đá theo một đường ṿng lớn.

(JPG)

Mới đầu người ta chỉ để ư đến tính chất h́nh học của đường catenary khi quay chung quanh đường Ox (H́nh 10) sẽ tạo ra một mặt tṛn xoay có diện tích tối thiểu. Mặt tṛn xoay này được đặt tên là mặt catenoid, và có tính chất là nếu đặt hai ṿng tṛn có mặt phẳng song song với nhau và cùng có chung một trục, th́ trong tất cả các mặt chạy qua hai ṿng tṛn ấy th́ mặt catenoid có diện tích nhỏ nhất. Tự đó mà nhà toán học Joseph-Louis Lagrange (1736-1813) là một Bá tước Pháp, đă đặt ra bài tính là nếu cho sẵn một đường cong phép kín mà không phẳng th́ t́m sao ra một mặt chạy qua đường cong này mà có diện tích nhỏ nhất. Bài tính này được đặt ra năm 1760 và như đă nói ở trên, bất cứ một mặt nào, như là mặt một miền đồi núi, có thể được biểu diễn bởi một hàm số của hai biến số là z = f(x,y), Bá tước Lagrange đă chứng minh đươc rằng phương tŕnh được nghiệm bởi hàm số giải đáp là một phương tŕnh vi phân riêng phần bậc hai, rất khó t́m lời giải. Trong ṿng một trăm năm tiếp theo, những nhà toán học nghiên cúu môn Hỉnh Học Vi Tích, tuy không hẳn t́m ra lời giải đáp là t́m được một mặt chạy qua môt h́nh cong khèp kín mà có d́ện tích tối thiểu so với các mặt khác cùng chạy qua đường cong này, nhưng đă phám phá ra nhiều mặt có h́nh dáng đặc biệt, chẳng hạn như h́nh catenoid nói trên đây. Đến năm 1968, một nhà vật lư học người Pháp tên là Plateau khám phá ra được rằng nếu lấy giây thép uốn thành một đuờng cong khép kín và h́nh thể bất kỳ ra sao, và sau đó nhúng vào nước nhớt, như là nước xà bông, th́ khi lấy ra sẽ có được một mặt có diện tích tối thiểu và điều này có thể chứng minh được căn cứ trên nguyên lư sức căng mặt dàn. Tuy Plateau chỉ là một nhà vật lư học cỡ trung b́nh, chưa t́m ra được một định luật nào đáng kể, nhưng nhờ thí nghiệm ấy mà bài tính toán học thuần lư này từ đó được mang tên là bài toán của Plateau. Bạn đọc có thể làm thí nghiệm này một cách dễ dàng và có thể uốn cong đường khép kín theo nhiều kiểu khác nhau để thấy h́nh dáng của nhiều mặt khác lạ, cùng chung tính chất là có diện tích tối thiểu, chẳng hạn như theo H́nh 12 là h́nh Catenoid.

Trong các bộ môn toán học, H́nh học là một môn chính xác nhất. Hơn nữa, v́ tính chất tuyệt hảo của các h́nh, như h́nh tṛn, h́nh cầu, h́nh lục lăng đều, vân vân ... mà các h́nh thể này được tạo hoá thể hiện trong thiên nhiên. Như đêm rầm, ngửng đầu nh́n lên không trung, ta thấy mặt trăng h́nh tṛn. Đứng bên bờ ao, nghe tiềng cá đớp ánh trăng, nh́n xuống ta cũng thấy những gợn nước h́nh tṛn. Sáng sớm ra vườn, cắt một quả dứa hay hái một trái khế, ta cũng thấy vỏ dứa có mắt xếp thành những h́nh lục lăng kề nhau, múi khế thành h́nh ngũ giác. Bông hoa hướng dương, những hạt cũng được xếp thành h́nh soắn ốc như trên các vỏ ốc đẹp tuyệt vời. Con ong làm tổ cũng theo h́nh lục lăng đều v́ trong tạo hoá muốn xếp những h́nh có cạnh đều liền với nhau mà không có khoảng trống như trường hợp lát gạch hoa, th́ ta chỉ có thể chọn một trong ba h́nh là h́nh tam giác đều, h́nh vuông và h́nh lục lăng đều, và loài ong đă chọn h́nh lục lăng v́ h́nh này gần với thân ong, và kiến tạo tổ cũng đỡ tốn kém sáp ong nhất.

(JPG)

Bài toán mặt diện tích tối thiểu chạy qua một đường cong khép kín cũng chỉ là một bài toán có tự nhiên trong trời đất, và nếu Lagrange không đặt ra vào năm 1760 th́ thế hệ sau thế nào cũng có người nghĩ đến. Tuy vậy, như đă nói ở trên, phải đến cuối thế kỷ thứ 19, các nhà toán học mới t́m ra được một số mặt có diện tích tối thiểu (minimal surfaces). Phương tŕnh tổng quát của những mặt này nghiệm đúng phương tŕnh bậc hai riêng phần của Lagrange, nhưng t́m ra một mặt phẳng đặc biệt chạy qua một đường cong khép kín bất kỳ th́ lời giải vẫn chưa t́m ra được mặc dầu thử nghiệm đă chứng tỏ rằng có sự hiện hữu của mặt tối thiểu.

(JPG)

Một số những mặt tối thiểu, được mang tên những nhà toán học đă t́m ra như là Enneper, Schwarz, Dupin, ... đă được tạo thành mô h́nh thạch cao và để tại thư viện toán học của Đại học Princeton. Ở trường Đại học Sorbonne ở Paris, phân khoa toán cũng lưu trữ một số mô h́nh các mặt h́nh học, trong đó có nhiều mặt diện tích tối thiểu như trên H́nh 13.

Bẵng đi một thời gian, phải tới khoảng những năm 1926-1928, mớ́ có bài đăng lời giải của giáo sư René Garnier ơ Đại học Paris thích hợp cho đường khép kín hợp bởi những đoạn thẳng gấp khúc. Lời giải trọn vẹn được t́m ra bởi hai nhà toán học Hoa Kỳ là các giáo sư J. Douglas và Tibor Rado vào năm 1929.

Từ nhỏ tôi đă thấy say sưa khi học ở trung học phải giải những bài toán h́nh học thật khó khăn. Lên đại học, tôi phải vào tận Nghệ An để học Toán Học Đại Cương với giáo sư Nguyễn Thúc Hào, lúc đó trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giáo sư Hào có bằng cử nhân Toán và đặc biệt ông có bằng cao học về “Giải Tích Cao Cấp” (Analyse Supérieure) . Ông thường nói là ước chi ông cũng được học môn “H́nh Học Cao Cấp” th́ thật là đầy đủ v́ ông coi đó như là những môn chính của Toán học. Vào niên học 1953-1954, ở Pháp có 17 Khu đại học, nhưng chỉ có hai đại học là Đại học Paris và Đại học Marseille là cấp chứng chỉ H́nh Học Cao Cấp, được kể là bằng cao học (Diplôme d’études supérieures). Lúc đó tôi đang theo học ở Trường Sĩ Quan Không Quân Pháp ở Salon de Provence nên ghi tên học môn này ở Đại học Marseille và ngoài việc được ngắm nh́n và làm quen với nhiều mặt diện tích tối thiểu, đôi khi tôi ngắm nh́n và thấy thích thú v́ tưởng như những màn sương rơi vương trên cành lá, mà lại được học về phép tính biến thiên để truy tầm những kết quả tối ưu, nhiều năm sau này tôi áp dụng vào phương pháp tính qũy đạo. Giờ đây, những mô h́nh toán học mà tôi làm quen khi xưa, và v́ không nh́n ngay thấy sự ứng dụng nên chỉ coi như là những h́nh đẹp trong thiên nhiên, nay đă được đưa dần vào hội hoạ và kiến trúc trong những thế kỷ 20 và 21.

Lời Tiên Tri của Voltaire

Khi tôi mới ra đời, ở những năm bắt đầu năm ba mươi của thế kỷ 20, Viện Đại Học Chicago là nơi quy tụ những nhân tài về toán học và khoa học. Nơi đây về sau này là nơi đă thực nghiệm thành công sự tạo ra năng lượng nguyên tử. Trong bộ môn toán học, dưới sự hướng dẫn của giáo sư G. A. Bliss, một loạt luận án tiến sĩ đă được đều đều viết ra trong mấy năm liền chung quanh đề tài “Phép Tính Biến Thiên” (Calculus of Variations).

Như ở đoạn trên đă viết, môn này được khởi sự bởi những bài toán đố của hai anh em ông Bernouilli, và thực sự được khai triển bởi người học tṛ của ông Bernouilli em là nhà thiên tài toán học Euler. Nhà toán học này đă t́m ra được điều kiện cần thiết để cho bài toán có lời giải cho trị số tối thiểu, chẳng hạn cho đường giây tuột dốc với thời gian ngắn nhất hay cho một đường cong quay tṛn để tạo ra một mặt có diện tích nhỏ nhất. Mới đầu phép giải bài toán này chỉ được coi như là một định lư toán học ở trong bộ môn giải tích đă có hàng trăm định lư khác. Phần khác, phép tính biến thiên chỉ dùng để t́m lời giải cho một số bài toán về h́nh học hay cơ học như hai bài toán vừa nói ở trên. Những áp dụng trong thực tế, nói cho đúng ra th́ không có ǵ nhiều. Trong lịch sử môn toán học, vào những năm đầu của thế kỷ thứ hai mươi, phép tính biến thiên không được chú trọng đến v́ vấn đền này được coi như là đă giải quyết xong. Nhưng một lư thuyết toán học nào cũng có những trường hợp gọi là trường hợp bất thường. Tỷ dụ như đă nói ở trên, một hàm số y = f(x) , liên tục cho biến số x ở trong khoảng từ x = a, cho đến x = b, sẽ qua một trị số cực đại hay cực tiểu khi đạo hàm triệt tiêu nghĩa là : δy = 0. Theo như đồ thị trên H́nh 14 th́ ở điểm cực đại hay cực tiểu, ta có tiếp tuyến nằm ngang với trục hoành độ như ở những điểm x1 và x2 .

(JPG)

Nhưng cũng theo h́nh này th́ ở điểm x3 , hàm số cũng liên tục và có trị số cực đại tuyệt đối, nghĩa là c̣n lớn hơn trị số cực đại ở điểm x1. Vậy mà ở điểm này, tiếp tuyến với đường cong không những không nằm ngang mà lại không liên tục. Ngoài ra, cũng theo H́nh 14, điểm cho trị số cực tiểu tuyệt đối không phải là điểm x2 , khi tiếp tuyến với đường cong nằm ngang mà lại ở điểm tận cùng khi x = b.

Trong phép tính biến thiên cũng vậy, định lư của Euler cũng chỉ là một định lư cho điều kiện cần thiết. Cuối thế kỷ 19, nhiều nhà toán học lỗi lạc như T. W. Weierstrass đă có những đóng góp xuất sắc về những điều kiện cần và đủ cho bài toán có lời giải tối thiểu. Nhóm sinh viên tiến sĩ của giáo sư Bliss ở Chicago sau đó đă khai triển tận cùng mọi khía cạnh của phép tính biến thiên và tất cả những luận án của họ nay được kể là những công tŕnh căn bản. Tới những năm bắt đầu thập niên bốn mươi, kỹ nghệ được mở mang và những nhu cầu của cuộc đại chiến thế giới đă làm cho con người luôn luôn nghĩ đến chuyện làm sao cho ḿnh vừa mạnh, vừa nhanh lại vừa ít tốn kém tài lực và nhân lực. Nói tóm lại trong đời sống thực tế đă có những nhu cầu đ̣i hỏi sự áp dụng của toán học, đặc biệt là phép tính biến thiên.

Khi những khoa học gia bắt đầu dùng những định lư t́m ra bởi nhóm Chicago, bắt nguồn từ những lư thuyết căn bản của Euler, Jacobi và Weierstrass, th́ người ta mới nhận ra rằng đem áp dụng vào thực tế không phải hoàn toàn suông sẻ. Chẳng hạn, dùng cho sự vận chuyển trên đại dương trong thế chiến, trên mặt biển theo h́nh cầu, đường ngắn nhất giữa hai điểm A và B là đường theo ṿng tṛn lớn, gọi là trực đạo, nhưng nếu muốn tránh những miền có đặt thủy lôi, và những đường tuần pḥng của tầu ngầm địch th́ phải đi đường ṿng thích nghi nhất, nghĩa là đường ngắn nhất mà không đi qua những vùng bể nguy hiểm. Lấy một thí dụ khác, trong sự vận chuyển hàng không, người ta có thể chứng minh được rằng nếu dùng phi cơ có máy phản lực th́ khi dùng một số nhiên liệu đă hạn định trước, tầm máy bay càng đi xa khi phi cơ càng bay cao. Mặt khác, muốn đốt cháy nhiên liệu trong máy phản lực, người ta cần đến không khí, mà chất liệu này càng lên cao càng bớt đi, muốn trộn đủ nhiên liệu đốt và không khí, người ta cần phải làm máy tua bin thật mạnh để hút và ép không khí. Tóm lại v́ sức máy có hạn, cao độ bay cũng có giới hạn và tầm bay xa cũng theo đó mà bị giới hạn. Nói chung, bất kỳ một bài toán nào biểu thị một hiện tượng thực tế trong đời sống cũng có những giới hạn ép buộc. Như giả sử ta làm một cây cầu bắc qua một con sông, mà muốn cầu chịu đựng một sức xe 50 tấn chạy qua, để giảm bớt kinh phí kiến trúc, người ta cũng phải giới hạn số sắt và thép làm cầu đă ấn định trước, v́ nếu không người ta cứ thả dàn dùng những thanh sắt càng dầy càng tốt để bảo đảm an toàn.

Bài toán biến thiên ở thời đại này không c̣n là bài toán giản dị t́m ra đường dây tuột nhanh nhất hay một đường cong để khi quay tṛn sinh ra một mặt có diện tích tối thiểu, mà là bài toán t́m ra lời giải cho một hệ thống động lực phức tạp. Tôi lấy một thí dụ cụ thể để dẫn giải là bài toán thay đổi qũy đạo của một vệ tinh trong không gian sao cho đỡ tốn nhiên liệu nhất.

Như theo H́nh 15, một vệ tinh nhân tạo hay một phi thuyền không gian, được tượng trưng bằng một điểm M, bay chung quanh trái đất với tâm điểm O, theo một qũy đạo khép kín. Qũy đạo này, thường th́ là một h́nh bầu dục nhưng trong thí dụ này ta lấy trường hợp thật dản dị là một h́nh tṛn nằm trong mặt phẳng xích đạo. Nay muốn dùng phi thuyền có máy chụp h́nh để quan sát một diện tích lớn trên trái đất th́ lư tưởng ra phải đặt phi thuyền vào một qũy đạo tṛn cao hơn trước và nằm nghiêng với mặt phẳng xích đạo, chẳng hạn theo góc 300 . Như thế, trong khi bay ṿng, ta có thể quan sát hay dùng máy để chụp h́nh những miền ở vĩ tuyến gần Bắc cực hay Nam cực v́ một nửa qũy đạo sẽ ở Bắc bán cầu và một nửa ở Nam bán cầu. Mặt khác, theo lư thuyết chuyển động. mặt phẳng qũy đạo có hướng cố định trong không gian mà ở dưới th́ trái đất lại quay đều chung quanh trục Nam Bắc. Như thế ta có thể chụp h́nh toàn thể địa cầu khi trái đất quay tṛn làm cho các múi kinh tuyến lần lượt hiện ra trên vùng quan sát.

(JPG)

Muốn di chuyển phi thuyền từ một qũy đạo đầu tiên gọi là Q1 , sang qũy đạo sau cùng gọi là Q2 , người ta phải cho phi thuyền rời qũy đạo nguyên thủy ở một điểm nào đó, gọi là điểm I . Ở điểm này, ta phải dùng hoả tiễn, gắn ở phi thuyền cho khai hỏa để cháy trong vài phút tùy theo ngắn hay dài để tạo ra một sức đẩy theo một chiều hướng nào đó với mục đích chuyển phi thuyền sang một qũy đạo gọi là qũy đạo chuyển vận, ghi là qũy đạo C. Sau đó, theo nguyên lư rơi (hay là bay) trong không gian, dưới hấp lực của trọng trường trái đất, phi thuyền sẽ tới gặp qũy đạo tận cùng ở điểm J. Ờ điểm này ta lại dùng hoả tiễn với khoảng thời gian cháy và chiều hướng cho sức đẩy để làm sao cho phi thuyền chuyển hướng bay vào qũy đạo Q2 như đă định trước. Trên đây ta đă mô tả sự chuyển vận phi thuyền từ qũy đạo Q1 sang qũy đạo Q2 . Nhưng khi thực hiện ta có thể chọn bất kỳ một điểm I nào để khởi đầu. Mặt khác ta cũng có thể chọn trên qũy đạo Q2 một điểm J bất kỳ nào để làm điểm tận cùng.. Phương sách để chọn lựa hai điểm I và J thật là vô tận. Tính môt cách thô sơ, chia ṿng tṛn ra làm 3600 , không kể những vị trí lẻ ở giữa những độ liên tiếp, th́ chỉ chọn hai điểm I và J không thôi, ta có tất cả là 360x360 = 129 600 lối chọn khác nhau. Sau nữa giữa những điểm I và J ta có thể chọn qũy đạo chuyển vận C bằng nhiều cách. Chẳng hạn ta có thể hạn định giờ bay ngắn hay dài giữa những điểm I và J. Muốn cho dễ hiểu ta làm bài toán thô sơ như sau: Muốn tính chu kỳ P, tức là thời gian bay trọn một ṿng trên qũy đạo tṛn chung quanh trái đất th́ ta có thể dùng công thức thật dản dị sau đây:

P = [ 1 + (h/R) ]3/2 x 84,489 phút

Ở công thúc này, R = 6378,135 km là bán kính trái đất và h là cao độ của qũy đạo. Lấy tỷ dụ qũy đạo thấp đầu tiên có cao độ h = 400 km. Thời gian bay ṿng quanh qũy đạo này, tính theo công thức trên sẽ là P1 = 92,56 phút. Nay ta muốn chuyển sang một qũy đạo cao hơn với h = 800 km để từ phi thuyền tầm nh́n xa sẽ lớn hơn, th́ theo công thức trên, chu kỳ để bay trọn một ṿng trên qũy đạo mới sẽ là P2 = 100,87 phút. Nay tính trung b́nh, thời gian bay từ qũy đạo này sang qũy đạo khác, nghĩa là từ vị trí I tới vị trí J bằng một nửa chu kỳ trung b́nh của hai qũy đạo. Tính giản dị, thời gian bay này là 48 phút. Thời gian này chưa chắc đă là thời gian tốt nhất. V́ vậy muốn có sự lựa chọn để lấy qũy đạo đỡ tốn nhiên liệu nhất, ta tính nhiều qũy đạo chuyển vận từ vị trí I tới vị trí J, có qũy đạo mất lâu hơn 48 phút và có qũy đạo ngắn hơn 48 phút. Tỷ dụ ta tính 30 qũy đạo khác nhau, qũy đạo nhanh nhất mất 33 phút và qũy đạo chậm nhất mất 62 phút. Như vậy, nói sơ sơ, muốn đi từ qũy đạo Q1 sang qũy đạo Q2 ta có thể dùng trong sự chọn lựa qũy đạo tối ưu một số đường bay là 360x360x30 = 3.888.000 tức là gần 4 triệu đường đi khác nhau. Như thế, đường trời muôn vạn nẻo, chọn đường nào cho có lợi? Giờ nói đến chuyện thế nào là tối lợi, hay tối ưu? Nếu tính đường bay cho một phi cơ phản lực khu trục, đang bay từ cao độ tuần pḥng, cần lên cao độ lớn hơn để chặn địch th́ phăi tính đường bay nhanh nhất, bất kể tốn kém về nhiên liệu. Ngược lại, cho một phi cơ tuần thám, dùng một số nhiên liệu dự trữ sẵn, th́ phải tính đường bay sao cho thời gian bay có trị số tối đa. Trong sự điều khiển vệ tinh và phi thuyền không gian ta có thể dùng hai mục tiêu. Nếu muốn quay một vệ tinh nhân tạo, từ vị thế này sang vị thế khác, chẳng hạn để đổi hướng nhắm một v́ sao, hay để truyền tín hiệu về trái đất, th́ ta t́m lối quay vận chuyển nhanh nhất. Cho những tác động này, dùng những động cơ phản lực nhỏ, sự tốn kém nhiên liệu không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi muốn vận chuyển vệ tinh hay phi thuyền không gian, từ qũy đạo này sang một qũy đạo khác, rất tốn kém nhiên liệu, th́ phải t́m phương pháp để tiết kiệm nhiên liệu. V́ thế, sự lựa chọn hai điểm I và J trên H́nh 15 và chọn qũy đạo vận chuyển C để nối hai điểm này phải làm sao để cho nhiên liệu đốt ở những điểm I và điểm J, khi cộng lại được giữ ở mức tối thiểu. Người đầu tiên đă giải bài toán này là nhà bác học người Đức W. Hohmann đă viết tài liệu Die Erreichbarkeit der Himmelskorper, có nghĩa là phương pháp để đạt tới các thiên thể, và được in ra năm 1925. Đây là bài toán thay đổi qũy đạo dản dị nhất như được biểu thị trên H́nh 16. Hai qũy đạo Q1 và Q2 đều là qũy đạo tṛn và nằm trong cùng một mặt phẳng. Theo phương pháp chuyển qũy đạo của Hohmann đề nghị th́ hai điểm I và J là hai điểm xuyên tâm đối. Qũy đạo vận chuyển là một h́nh bầu dục tiếp xúc với hai qũy đạo khởi thủy và tận cùng ở những điểm I và J. Khi phi thuyền tới điểm I th́ hoả tiễn đốt máy phản lực để tăng tốc độ làm cho phi thuyền rời qũy đạo Q1 để bay vào qũy đạo chuyển vận C. Cũng như thế, khi phi thuyền tới điểm J, nghĩa là đă đạt được cao độ của qũy đạo Q2 th́ hoả tiễn lại phải đốt cháy trong khoảng thời gian cần thiết để tăng tốc độ phi thuyền tới tốc độ vừa đủ để bay vào qũy đạo này. Qũy đạo vận chuyển này được mang tên là qũy đạo Hohmann và đi theo đường này th́ tổng số nhiên liệu cần thiết để thay qũy đạo ở những điểm I và J sẽ ở mức tối thiểu. Tuy Hohmannn đề nghị phương pháp này nhưng ông không chứng minh đó là qũy đạo tối ưu, nghĩa là ít tốn nhiên liệu nhất. Phải đợi hai mươi lăm năm sau vào khoảng đầu những năm năm mươi, khi con người bắt đầu nghĩ đến chuyện phóng những vệ tinh nhân tạo và thay đổi qũy đạo th́ điều này mới được chứng minh tường tận.

(JPG)

Cho đến nay th́ sự đóng góp vào phép tính tối ưu, bắt nguồn từ phép tính biến thiên, và sự áp dụng phương thức để tính những qũy đạo tối ưu, là do công tŕnh nghiên cứu của nhiều người và nhiều nhóm. Về lư thuyết, đáng kể nhất là nhóm của giáo sư người Nga là ông L. S. Pontryagin và ba môn đệ của ông. Nhóm này xây dựng “Lư Thuyết Phương Sách Tối Ưu” (Theory of Optimal Process) vào khoảng những năm 1956-1961. Đại cương th́ lư thuyết này tối tân hoá phép tính biến thiên của nhóm Chicago để khi áp dụng vào những bài toán thực nghiệm có nhiều sự ràng buộc, t́m ra lời giải được dễ dàng hơn. Giáo sư Pontryagin, v́ những năm cuối của cuộc đời, ông bị mù loà nên mới xuất thần nghĩ ra định lư chính cho lư thuyết gọi là Nguyên Lư Tối Đa (Maximum Principle), và sau đó ông hướng dẫn cho các môn đệ, nay cũng là những vị cao niên, dùng môn giải tích cao cấp để chứng minh định lư này. Nhóm này được giải thưởng Lenin về khoa học vào năm 1962. Cũng vào những năm cuối của những năm năm mươi mà ở Đại học Canterbury ở một xứ hẻo lánh ở Nam bán cầu là New Zealand mà giáo sư D. F. Lawden đă viết một loạt bài về lư thuyết thay đổi qũy đạo với nhiên liệu tối thiểu. Lư thuyết của ông được dùng một cách tổng quát để vận chuyển những qũy đạo h́nh bầu dục ở không gian ba chiều nên qũy đạo t́m ra bởi Hohmann chỉ là một trường hợp rất đặc biệt. Tất cả những bài viết của giáo sư Lawden đều đă được đăng ở báo kỹ thuật của British Interplanetary Society và nguyệt san Astronautica Acta của Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) nên được nhiều người biết đến và ông được coi như là người đặt nền móng căn bản cho lư thuyết qũy đạo không gian tối ưu. Sau đó ông tập hợp tất cả những điều đă t́m ra để viết thành cuốn sách “Optimal Trajectories for Space Navigation” do nhà sách Butterworths ở London xuất bàn năm 1963. Sách này chỉ hai năm đă bán hết và đă là sách căn bản để dậy môn qũy đạo không gian tối ưu ở bậc đại học. Năm 1967, Viện Hàng Không và Không Gian Hoa Kỳ (American Institute of Aeronautics and Astronautics) thành lập “Giải Cơ Học và Điều Khiển Phi Hành” (Mechanics and Control of Flight Award). Giải này được phát mỗi năm cho một người và giáo sư Lawden là người đầu tiên được tặng giải. Tuy vậy v́ tư tưởng chính trị, ông không được cấp chiếu khán vào Hoa Kỳ kịp thời nên nhờ hai giáo sư John V. Breakwell ở Đại học Stanford và giáo sư Georges Leitmann là khoa trưởng ở Đai học California ở Berkeley lĩnh hộ.

Hai thập niên sáu mươi và bẩy mươi là những năm mà các nhà khoa học và kỹ thuật chú ư đến sự khảo cứu về những phương pháp tối ưu và những áp dụng đặc biệt trong chuyển động không gian. Về lư thuyết th́ có phương sách tối ưu theo kiểu Pontryagin nay được gọi là Lư Thuyết Điều Khiển Tối Ưu (Optimal Control Theory). Có hàng loạt luận án tiến sĩ, sách giảng dậy, và cả báo kỹ thuật chuyên môn được đề ra hay xuất bản về môn này. Về qũy đạo tối ưu th́ nay đă có mấy trăm bài khảo cứu được viết ra trong khoảng hai mươi năm nhưng phần lớn đều là những bài khảo xát về những khiá cạnh nhỏ của lư thuyết của giáo sư Lawden. Nhưng trong khoảng những năm 1967-1970 th́ có hai nhân tài người Pháp xuất hiện là các ông Christian Marchal và Jean-Pierre Marec đều là cựu sinh viên lỗi lạc của Trường Bách Khoa (École Polytechnique) và sau này đậu tiến sĩ quốc gia toán học ở Đại học Paris. Thay v́ chỉ căn cứ vào cuốn sách của giáo sư Lawden rồi khai thác những phần đặc biệt chưa được đề cập đến, các ông Marchal và Marec đă khảo xát lư thuyết chuyển qũy đạo tối ưu một cách tổng quát. Họ đă đạt được những kết quả thật xuất sắc và toàn diện trong đó chứa đựng lư thuyết của Lawden. Những nhà khoa học này đă thành công v́ một mặt họ có căn bản toán học vững chắc, và mặt khác họ được học chu đáo về môn cơ học thiên thể mà từ một trăm năm nay hai nước Pháp và Nga là những nước có truyền thống giảng dậy kỹ càng nhất. Giờ đây có thể nói là Lư thuyết qũy đạo không gian tối ưu, bắt đầu từ Hohmann vào năm 1925, và được khai triển bởi Lawden vào những năm 1956-1960, đă được coi như hoàn mỹ khi chúng ta bước vào phần cuối của thế kỷ hai mươi. Đường trời tuy có muôn vạn nẻo, nhưng nhờ óc thông minh và tính kiên tŕ trong công cuộc t́m ṭi khảo cứu, nay loài người đă biết t́m thấy hướng đi.

Cũng như ở cuối những phần trên, tôi kết luận chương sách này với những kỷ niệm riêng. Là một người đă bắt đầu làm quen với những bài tính về qũy đạo từ năm 1962, tôi đă gặp và quen hầu hết những khoa học gia lỗi lạc nhất về môn này.

Giáo sư người Nga, L. S. Pontryagin là người của thế hệ trước, nay đă qua đời tôi chỉ biết ông qua cuốn sách để lại. Nhưng tháng 5 năm 1991 tôi đă được gặp đại đệ tử của ông, cũng là người lớn tuổi hơn, là tiến sĩ V. G. Boltyanski trong một buổi họp một tuần lễ ở Đức quốc. Vào dịp này Viện Toán Học Mathematisches Forschunginstitut Oberwolfach đă mời vào khoảng ba mươi nhà toán học trên thế giới về Phép Tính Biến Thiên họp và ăn ở một tuần lễ ở miền núi Oberwolfach ở vùng Black Forest để cùng thảo luận về môn này với một số nhà toán học Đức quốc. Những bài thảo luận cũng đă được in thành sách để làm tài liệu. Sau khi Liên Sô xụp đổ, nhiều nhà khoa học Nga được dễ dàng xuất ngoại. Đầu năm 1995, nhân vật thứ ba của nhóm Pontryagin là giáo sư R. V. Gamkrelidze, có lẽ là người thông thạo Anh ngữ nhất trong nhóm, đă được mời tới Đại học Michigan, là nơi tôi đang giảng dậy, hai tuần để trao đổi ư kiến. Tôi dự một bài thuyết tŕnh của ông về “Lịch Sử t́m ra Nguyên Lư Tối Đa” th́ được biết là khởi đầu có mấy sĩ quan của Bộ Quốc Pḥng đến gặp giáo sư Pontryagin và hỏi ư kiến ông về phương pháp điều khiển để đạt được kết quả tối ưu khi có sự giới hạn. Vấn đề này nếu dùng phép tính biến thiên cổ điển để t́m lời giải đáp th́ rất phức tạp. Theo giáo sư Gamkrelidze th́ tiến sĩ Pontryagin đă mất hai đêm không ngủ mới nghĩ ra Nguyên Lư Tối Đa. Sau đó nhóm của ông cũng mất thêm mấy năm nữa để viết một bài giới thiệu lư thuyết này, đi từ trường hợp dễ đến trường hợp tổng quát.

Giáo sư Lawden, nguyên là người Anh quốc, có một thời gian di cư sang New Zealand, nay lại trở về Đại học Birmingham ở quê hương. Sau này có vẻ ông không c̣n thiết tha đến môn qũy đạo học và trở về môn Cơ Học Nguyên Lượng (Quantum Mechanics). Tôi chưa được gặp ông, nhưng vào khoảng năm 1970 tôi viết một bài khảo cứu đề là “Integration of the Primer Vector in a Central Force Field” gửi đăng ở báo quốc tế “Journal of Optimization Theory and Applications”. Luật lệ của báo này là phải có một chuyên gia đọc bài và kư tên đỡ đầu. Toà báo đă gửi bản thảo của tôi cho ông duyệt và khi bài in ra có chua thêm là “communicated by D. F. Lawden”. Đây cũng là điều khá đặc biệt v́ ít khi tôi thấy ông hỗ trợ bài của ai.

Giải Cơ Học và Điều Khiển Phi Hành gồm có một huy chương để choàng vào cổ, một bản tuyên dương và một huy hiệu để cài trên ve áo. Về giáo sư Lawden, người đầu tiên được trao giải này, th́ trên huy chương có khắc chữ và trên bằng có in câu tuyên dương “For pioneer work and outstanding contributions to the field of space flight optimization”, tạm dịch là “Cho những công tŕnh khai phương và đóng góp xuất sắc cho môn qũy đạo không gian tối ưu”. Hai giáo sư bạn lĩnh giải hộ cho ông th́ giáo sư John V. Breakwell được chọn lĩnh giải năm 1972 và giáo sư George Leitmann là khôi nguyên năm 1984. Tôi thường gặp giáo sư Breakwell hàng năm trong những Hội nghị về Cơ Học Vũ Trụ (Astrodynamics). Ông đă qua đời cách đây mấy năm nhưng ông đă để lại nhiều công tŕnh đặc sắc và nhiều cựu sinh viên tiến sĩ của ông ở Đại học Stanford đă rất thành công trong ngành khoa học không gian. Lần cuối cùng tôi gặp giáo sư Leitmann là ở tuần lễ hội thảo ở Oberwolfach. Ông cho biết là trong chương tŕnh trẻ trung hóa ở các đại học California ông đă cùng một số lớn các giáo sư ở Đại Học Berkeley về hưu trước tuổi tối đa.

Tôi quen biết khá thân với nhóm khoa học gia ở Pháp. Năm 1968 tôi chuyển từ Đại học Colorado tới Đại học Michigan và trước khi đi đă mời được Christian Marchal từ Paris sang Colorado thay thế môt năm. Vào niên học 1974-1975 tôi cũng sang Pháp để làm việc chung với ông Jean-Pierre Marec, lúc đó là một trong những giám đốc ở cơ quan Office National d’Etudes et de Recherches Aérospatiales (ONERA) ở Châtillon gần Paris và cũng dậy thế cho ông một khoá ở Trường SupAéro ở Toulouse. Nhân dịp này ông cũng nhờ tôi coi lại bản thảo cuốn sách “Optimal Space Trajectories” của ông, sau này do nhà xuất bản Elsevier Scientific Publishing Company ở Amsterdam in ra năm 1979. Cuốn sách này đầy đủ và ở tŕnh độ cao hơn cuốn sách của giáo sư Lawden nên bây giờ được coi như là cuốn sách chính và độc nhất về môn này trên thế giới. Trong phần mở đầu, tiến sĩ Marec cũng ân cần cám ơn tôi đă đọc bản thào và góp ư kiến. Trong bài giới thiệu cuốn sách của Marec, viết bởi ông Pierre Contensou là Chủ Tịch cơ quan ONERA có một câu mở đầu trích từ bài viết của nhà văn và triết gia Francois-Marie Arouet, bút hiệu là Voltaire (1694-1778) : “Notre voyager connaissait merveilleusement les lois de la gravitation, et toutes les forces attractives et répulsives. Il s’en servait si à propos, que tantôt à l’aide d’un rayon de soleil, tantôt par la commodité d’une comète, il allait de globe en globe, lui et les siens, commme un oiseau voltige, de branche en branche” (Người du hành của chúng ta biết một cách nhiệm mầu những luật hấp dẫn vạn vật, những sức hấp và sức đẩy. Khách không gian đă khéo biết lợi dụng, lúc th́ nương một tia sáng mặt trời, lúc dựa theo đà một ngôi sao chổi, cùng với quyến thuộc, khách đi từ tinh cầu nọ tới tinh cầu kia, như một con chim bay truyền cành.) Câu viết này thật là lời tiên tri v́ nay trong phương sách t́m qũy đạo tối ưu trong chiều hướng ít tốn kém nhiên liệu, đôi khi muốn thay đổi qũy đạo, người ta cho vệ tinh bay sát một hành tinh ở giữa đường để nhờ sức hấp của hành tinh này làm gia tăng tốc độ và lấy đà để đi tới hành tinh khác ở xa hơn. Một phương sách khác được dùng khi chuyển từ qũy đạo cao tới qũy đạo thấp khi người ta cần phải giảm bớt tốc độ phi thuyền, th́ có một cách là thay v́ dùng hỏa tiễn chạy ngược chiều để giảm tốc độ, người ta cho phi thuyền bay vào bầu khí quyển của hành tinh và dùng sức cản gây ra để hăm tốc độ. Để lấy một thí dụ giản dị, ta coi trên H́nh 17 biểu thị qũy đạo của vệ tinh Magellan khi bay tới Hoả Tinh. Theo nguyên tắc th́ khi bay tới cận điểm là điểm P, ta phải cho máy hoả tiễn chạy ngược chiều để gây ra một sức cản lớn làm giảm tốc độ để vệ tinh quan sát này bay vào qũy đạo bầu dục PQ chung quanh Hoả Tinh.

(JPG)

Muốn gây ra sức cản này cũng khá tốn kém nhiên liệu, và nếu có cách nào giảm thiểu th́ có thể dùng trọng lượng dư ra để dùng cho những dụng cụ quan sát, đo lường, truyền tin hay để dùng cho những sự điều khiển khác. Phương pháp tiết kiệm nhiên liệu đă được cơ quan điều khiển Jet Propulsion Laboratory ở Pasadena, California dùng để cho vệ tinh vào qũy đạo của Hoả Tinh là làm cho vệ tinh tới hành tinh này ở điểm thấp hơn cao độ của điểm P để đi vào trong bầu khí quyển dù rất mỏng manh nhưng cũng đủ để gây ra một sức cản rất nhẹ. Nhờ đó mà vệ tinh đi vào một qũy đạo chung quanh Hoả Tinh, lúc đầu thật rộng, và viễn điểm c̣n ở cao hơn viễn điểm dự trù Q rất nhiều. Nhưng mỗi lần vệ tinh quay trở lại điểm P, là điểm thấp nhất với sức cản tăng lên theo tỷ lệ thuận với tỷ trọng của bầu khí quyển, vận tốc lại được giảm đi làm qũy đạo thu hẹp dần lại. Người ta có thể dùng toán học để chứng minh rằng điểm P, là cận điểm của qũy đạo h́nh ellip, gần như đứng nguyên trong khi đó điểm Q là viễn điểm th́ xuống thấp dần. Khi đă tới đúng cao độ chọn lựa cho điểm Q th́ ở đó ta cho chạy máy hoả tiễn một thời gian ngắn để tăng vận tốc lên chút ít và như thế sẽ đưa điểm P lên cao hơn bầu khí quyển và hoàn tất phương sách dùng bầu khí quyển để bắt vệ tinh.

Theo Ánh Tinh Cầu

Nhiều người ở trong lớp tuổi của tôi, lớn lên và ra đời ở trong một thời đại có nhiều biến chuyển trên đất nước, đă từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền cũng như trong quân đội, đă viết những hồi kư, và những cuốn sách nếu viết trung thực sẽ là những tài liệu qúy giá cho đời sau. Riêng tôi th́ chỉ viết những mẩu chuyện ngắn kể lại từng khoảng đời tầm học và phục vụ trong những ngành giáo dục và nghiên cúu khoa học của ḿnh mà thôi. Những bài viết này tôi thu thập lai thành những tập sách, hướng nhiều về những bạn đọc trong giới học sinh và sinh viên của nước nhà.

(JPG)

Cuốn sách đầu tiên tôi đưa ra đă do nhà Xuất Bản Đại Nam in vào năm 1990 với đề là “Theo Ánh Tinh Cầu” . Có những lần, ngồi nh́n tấm b́a sách vẽ một em bé thả diều, tôi đă nghĩ rằng vô t́nh người bạn trẻ là hoạ sĩ trang trí cho cuốn sách đă tả cuộc đời trôi nổi của tôi, dù có lên xuống theo vận nước như con diều theo gió sớm, nhưng lúc nào cũng cố gắng để vươn lên cao. Tôi nghĩ là hành xử trong cuộc đời, miễn là có ư niệm tốt đẹp là trau dồi tài năng để có dịp th́ dấn thân, phục vụ cho quốc gia và dân tộc được hữu hiệu hơn, th́ dù có gặp khó khăn, cản trở, với kiên tŕ và tạo điều kiện thích nghi với hoàn cảnh th́ thế nào cũng tiến tới thành công.

Các toán gia về môn Lư Thuyết Điều Khiển Tối Ưu, khi t́m những lời giải cho một bài toán qũy đạo tối ưu, cũng gặp những trường hợp tương tự. Mỗi lần thay đổi hướng bay, dù cho một phi cơ bay trong bầu khí quyển của trái đất, hay cho một phi thuyền không gian, người ta phải tạo ra một lực để quay vec-tơ vận tốc theo chiều hướng và lực này khá lớn nếu vận tốc lớn. V́ vậy, nếu là phi thuyền không gian đang vận chuyển trên một qũy đạo hính ellip th́ nên đợi cho phi thuyền tới viễn điểm, ở nơi đó vận tốc có trị số tối thiểu, đó là thời điểm thuận tiện để quay vec-tơ vận tốc. Mặt khác, nếu phi thuyền không gian có cánh

(xem tiếp

 

Số lượt truy cập
2016314

Site by IT Experts
© Copyright 2005 HuongDuong.com.au
All right reserved.