Đầu năm 2006, những cuộc đ́nh công, nhất là về ngành May Dệt và Dầy Dép, đă trở thành Phong trào bắt đầu từ những Khu Chế Xuất Sài-g̣n, B́nh Dương, rồi lan ra ṭan Quốc.
Đồng thời trên b́nh diện quốc tế, từ tháng Tư năm 2005, Hoa kỳ và Liên Au đă phản ứng mạnh đối với những hàng May Dệt của Trung cộng và gần đây nhất Liên Au đă quyết định tăng thuế nhập cảng những hàng Da Dầy Dép đến từ Trung quốc và Việt Nam. Những cuộc đ́nh công tại Việt Nam có những lư do thuộc nội bộ và có những liên hệ đến cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế. Chính v́ vậy, nếu chế độ hiện hành ở Việt Nam chỉ dùng những biện pháp vá víu để giải quyết những lư do nội bộ về đ́nh công, th́ Đảng và Nhà Nước CSVN vẫn c̣n những lư do đến từ cạnh tranh quốc tế không thuộc thẩm quyền giải quyết của họ. Phải có những giải quyết ?cách mạng? căn bản phá bung chế độ chính trị hiện hành để có thể thiết lập một Môi Trường Chính trị?Luật pháp Dân chủ phù hợp (Environnement Politico-Juridique Démocratique Adéquat) cho một nền Kinh tế Tự do Thị trường thực sự hầu phát triển Kinh tế đất nước\. Chỉ có phát triển Kinh tế thực sự mới có thể giải quyết được quyền DẠ DẦY của Dân chúng.
Những cuộc đ́nh công của giới Lao động Việt Nam hiện nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị. Phải đẩy những cuộc đ́nh công này đi đến chỗ phá tan chế độ hiện hành để thiết lập một thể chế Chính trị-Pháp lư phù hợp với nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực để phát triển Đất Nước. Như vậy mới có thể giải quyết:?
==> Quyền DẠ DẦY của Dân chúng trong nội bộ Việt Nam??
==>? Tăng khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại quốc tế để những giải quyết nội bộ không hoàn toàn bị lệ thuộc.
?Chúng tôi nhớ câu nói của cựu Thủ tướng LƯ QUANG DIỆU Singapore khuyên Nhà Nước Cộng sản Việt Nam:?Khối đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài là yếu tố rất may mắn cho việc phát triển Thương mại của Việt Nam?.
?Khối người này tha thiết đến việc phát triển Quê Hương, nhưng với điều kiện là chế độ độc tài toàn trị phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế Dân chủ đích thực\. Việc hợp tác thực sự chỉ có thể có khi mà mọi người có Tự do và quyền Dân chủ để cùng xây dựng.
?Lực lượng đ́nh công ngày nay báo hiệu Khủng hoảng Chính trị và là cái ng̣i nổ rất lớn để toàn dân đứng lên quét sạch chế độ rác rưởi hiện hành và dùng quyền Dân chủ để xây dựng một chế độ Chính trị—Pháp lư khả dĩ làm điều kiện cho những phát triển Kinh tế Đất Nước.?
?PHONG TRÀO QUỐC DÂN YỂM TRỢ CÔNG NHÂN ĐẤU TRANH phải được đẩy mạnh, trước hết là để bảo vệ những chiến sĩ công nhân can đảm đang lănh đạo đ́nh công, sau nữa là đẩy cuộc đấu tranh của công nhân đến Tổng Đ́nh Công ép buộc thể chế rác rưởi độc tài phải biến đi để nhường chỗ cho một thể chế khả dĩ mang điều kiện Chính trị?Pháp lư Dân chủ thuận tiện cho việc giải quyết quyền DẠ DẦY cho Dân chúng.
?Chúng tôi sẽ lần lượt viết một loạt bài QUAN ĐIỂM xoay quanh chủ đề này:
1) Quyền DẠ DẦY (Stomach Right) là quyền quan trọng nhất:
Có thực mới vực được đạỏ
2) Quần chúng nổi dậy trong Lịch sử quốc tế
3) Những lư do nổi dậy thuộc Quốc nội
4) Anh hưởng Kinh tế Thương mại quốc tế đến lư do đ́nh công
5) Phải có Liên đoàn Công nhân Độc lập trong những giải quyết tổng thể Đ́nh Công
6) Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực.
7)? Nền Kinh tế Tự do Thị trường đích thực đ̣i phải lật đổ chế độ CSVN
8) Môi trường Chính trị?Pháp lư Dân chủ cho nền Kinh tế Tự do Thị trường
9) Sự phối hợp những Phong trào đấu tranh: quyền DẠ DẦY, quyền DÂN CHỦ, quyền TỰ DO NGÔN LUẬN
10) Kết luận: phải vứt bỏ ngay chiếc váy đụp để may váy mới với vải đẹp
Toàn dân có nhiệm vụ phải YỂM TRỢ Phong trào Công nhân đấu tranh này và đẩy Phong trào đến đến một Lực lượng quần chúng nổi dậy chấm dứt chế độ độc tài hiện hành. Đây không phải là vấn đề công nhân làm chính trị mà là việc cứu nước của giới công nhân bởi lẽ chính chế độ độc tài hiện hành là lư do chính yếu làm cho công nhân phải khốn cùng và làm cho cả Dân tộc đau khổ.
Bài này là bài thứ 6 trong loạt bài chủ đề về Đ́nh Công, một Lực Lượng quần chúng từ giới Lao Động.
Chủ đề 6: Những giải quyết tổng thể và căn bản trong một nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực.
Những lư do Đ́nh Công thuộc Quốc nội và thuộc phạm vi cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế gồm nhiều những phức tạp liên hệ với nhau. Trong bài trước, chúng tôi nhận định rằng giải quyết của CSVN tăng lương tối thiểu lên 40% chỉ là giải quyết mang nặng yếu tố chính trị và chỉ là vá víu. Chúng ta phải nghĩ đến những giải quyết tổng thể và căn bản dựa trên những phân tích kỹ lưỡng những lư do đ́nh công thuộc quốc nội và quốc tế. Những giải quyết tổng thể và căn bản như vậy không phải là dễ dàng đưa ra bởi lẽ những lư do kia rất phức tạp. Chúng tôi thành thực thú nhận rằng khả năng đơn độc của chúng tôi không có tham vọng đưa ra những giải quyết tổng thể và căn bản để mọi người công nhận là đúng. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng dù với hiểu biết hữu hạn và nhỏ bé của ḿnh, th́ ḿnh cứ viết ra để những bậc đàn anh, những vị hiểu biết sâu rộng hơn sửa chữa và thêm ư kiến cốt ư làm lợi cho Quê Hương mến yêu của mọi người Việt Nam. Nghĩ như vậy, chúng tôi can đảm viết dù biết rằng kiến thức của ḿnh hữu hạn và nhỏ bé.?
Bài này đề cập những điểm sau đây:
==> Ưu tiên khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp?
==> Công nghệ hoá từng chặng vững chắc theo mức vốn tự tạo và khả năng chuyên nghiệp hấp thụ
==> Vai tṛ Khối người Việt Hải ngoại tham dự Kinh tế Quốc nộỉ
==> Diệt tham nhũng để khỏi bóc lột quốc nội và tăng giá thành cạnh tranh quốc tế
==> Những điểm khả dĩ thỏa măn tổng thể và căn bản cho Đ́nh Công
Ưu tiên khuếch trương
Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Sau năm bức tường Bá Linh sụp đổ, tôi sang Varsovie và Moscou. Tôi gặp một Giáo sư Toán học tại Varsovie, Gs\. CHỬ VĂN ĐÔNG. Giáo sư cùng đi với tôi sang Moscou thăm Dom 5 Cũ và Dom 5 Mới. Trong khi đàm đạo, Giáo sư nói rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước Quốc Hội gật rằng:?Những ǵ các nước làm không được, th́ nước ta làm được\. Năm tới, tôi hứa với dân Hà nội rằng mỗi buổi sáng, ai ai cũng được uống một CỐC SỮA TRÂU !.
Nhà nước CSVN chỉ huy Kinh tế không phải là v́ cơm ăn áo mặc cho dân chúng, mà là cho vẻ vang chính trị của đảng CSVN. Họ muốn đốt mọi giai đoạn nền tảng cho đời sống Kinh tế.
Tôi dám quả quyết với tất cả mọi ngưởi Việt Nam một chân lư rằng Dân chúng Việt Nam không thể bị chết đói với đồng lúa ph́ nhiêu của ḿnh, với cá mắm dồi dào từ ngánh rạch đến trên 2000 cây số đi ra Biển Đông bắt cá tôm\. Nước ta có GẠO, CÓ CÁ, CÓ MUỐI, th́ Dân ta không thể chết đói được.
Tại Thụy sĩ, tôi vô cùng đau buồn khi nghe tin Mẹ của tôi phải ăn bo-bo trên bờ ruộng lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Những năm gần đây, người ta ca ngợi rằng Việt Nam đă có thanh b́nh, đà phát triển Kinh tế mỗi năm tăng 8%, nhưng đảng CSVN lại hô hào chương tŕnh cứu đói giảm nghèo.? Thật là nghịch lư vậy. Nhưng nghịch lư đă xẩy ra thực sự trên Đất Nước Việt Nam chỉ v́ một chế độ chỉ lo chiêu bài công nghệ hoá phục vụ chế độ độc tài toàn trị. Người ta chỉ lo làm vẻ vang chế độ để bịp bợm Dân và Quốc tế cốt giữ lấy quyền hành cai trị.
Đi vào vấn đề chuyên môn Kinh tế. Sản xuất là việc làm tăng giầu có cho Công ty hay Quốc gia. Việc sản xuất của Công ty hay Quốc gia tùy thuộc ba yếu tố:
Q == f ( K, L, t)??
Q : Lượng sản xuất (Quantity); f: tùy thuộc (depends); K: Vốn (Capital); L: Nhân lực (Labour); t: Kỹ thuật (technology), Chính trị, Pháp lư hội nhập vào hai yếu tố chính là Vốn và Nhân lực.
Cái hướng đi của một nền Kinh tế Quốc gia tùy thuộc vào ba điều kiện vây quanh: (i) Điều kiện Địa lư thiên nhiên; (ii) Điều kiện Nhân lực; và (iii) Điều kiện Chính trị?Pháp lư, Văn hoá, Giáo dục, Tập quán..
Như trên tôi vừa nói, dân chúng Việt Nam không thể nào chết đói v́ (i) Điều kiện Địa lư thiên nhiên cung cấp Lúa Gạo, Hoa Trái với đồng bằng ph́ nhiêu và cung cấp Cá, Tôm... với sông rạch chằng chịt và Biển Đông chạy dài bao quanh. Về (ii) Điều kiện Nhân lực, Dân Việt Nam đă từ 4000 năm nay có khả năng khai thác hai nguồn lợi thiên nhiên này để sống c̣n no ấm. Dù bị Bắc phương ức hiếp, Dân Việt Nam đă chạy dài theo những cánh đồng bằng và ven theo bờ biển bởi v́ thấy đó là bảo đảm cho Dạ Dầy của ḿnh để sống c̣n, không bị chết đói.
Dân tộc Việt Nam, Lănh thổ Việt Nam đă có hai Yếu tố dồi dào để sản xuất giầu có theo công thức của Kinh tế : Q == f(K,L,t)
Việc sản xuất mang lại giầu có là tùy thuộc vào K (Vốn) và (L (Nhân lực). Nguồn vốn K của Việt Nam là Đồng Nội ph́ nhiêu và Sông Ng̣i, Biển Cả đầy thủy sản. Hai nguồn vốn này có tính cách tái hồi vô tận không thể cạn được (ressources de Capital renouvelable, non epuisable). Nhân lực Việt Nam đă chuyên môn về Nông nghiệp và Ngư nghiệp từ bao ngàn năm ?
V́ vậy chúng tôi chủ trương rằng phải dành cho Việt Nam ưu tiên về khuếch trương Nông nghiệp và Ngư nghiệp. Dân chúng Việt Nam không cần phải ăn bo-bo, có cá lóc nướng cuốn bánh tráng để dân thoải mái, không phải nghe tiếng CSVN kêu than chống đói giảm nghèo quá tủi hổ.
Khi đă no ấm do Nông nghiệp và Ngư nghiệp, Dân mới lạc quan, có sức khỏe nghĩ đến khuếch trương Công nghệ bán kiếm thêm, du lịch đây đó với đời.
Về phương diện kiếm tài chánh cho Công nghệ hóa, trước tiên hăy t́m kiếm từ chính ḿnh (ressources financieres internes), rồi tần tiện tích lũy đến tự lập tài chánh (autofinancement). Đó là nguyên tắc tối sơ của tài chánh. Đồng bằng Việt Nam và Sông ng̣i Biển Cả Việt Nam là nguồn vốn tái hồi vô tận (ressources des capitaux renouvelables sans fin). Những hạt cây rơi xuống, không cần phải săn sóc, cũng mọc lên xanh um. Mỗi năm hai ba mùa lúa. Cá mang bầu tụ họp vào Vịnh Bắc Việt để đẻ con mỗi năm. Cá con lớn lên trôi xuống Phan Thiết, Cà Mâu để ngư phủ bắt. Tất cả là vốn tái hồi (Capital renouvelable) và là một trong những nguồn quan trọng để công nghệ hóa dần dần Đất Nước vậy (Autofinancement pour le Pays). Nếu biết tạo số vốn này, th́ 31 năm rồi, Việt Nam đă có nguồn vốn tự lập khá vững chắc.
Công nghệ hoá từng chặng vững chắc
theo mức vốn tự tạo và
khả năng chuyên nghiệp hấp thụ
Điều kiện để công nghệ hóa vững chắc là phương tiện chuyên chở dễ dăi, có thị trường tiêu thụ, có vốn chủ động và nhân lực.
Về phương tiện chuyên chở dễ dăi, Việt Nam có rất nhiều ưu điểm hơn biết bao những quốc gia khác. Nếu Trung Cộng hiện nay chỉ có khả năng khuếch trương công nghệ ở những thành phố ven biển (Villes cotieres), th́ những thành phố của Việt Nam hầu như được coi là ven biển. Chỉ cần con đường giao thông dọc Bắc?Nam là đủ nối liền giao thông các thành phố nội địa và các thành phố này ra biển giao thông với quốc tế dễ dàng.?
?
Nói về Thị trường tiêu thụ, th́ Việt Nam là nước đă có liên hệ lịch sử với hai cường quốc tư bản tiêu thụ : Pháp (qua đó là Liên Au) và Hoa kỳ. Người Việt Nam tỵ nạn trong hai khối tiêu thụ này là đầu cầu vô cùng quư giá cho việc phân phối hàng hóa cho hai khối. Chính là vấn đề Chính trị của chế độ hiện hành làm ngáng trở thị trường tiêu thụ hải ngoại. Việc vào Tổ chức Thương mại Hoàn cầu (WHO/OMC) mà không thay đổi thể chế có thể không có lợi bằng việc thay đổi thể chế mà chưa vào được WHO/OMC.
Đối với nguồn vốn cho khuếch trương công nghệ, chúng ta phải luôn luôn giữ vững chủ trương nguồn vốn tự tạo (autofinancement) nếu chúng ta không muốn kéo dài kiếp làm thuê tùy thuộc ngoại lai khai thác về công nghệ. Như trên vừa tŕnh bầy, Nông nghiệp và Ngư nghiệp Việt Nam có khả năng của nguồn vốn tái hồi mỗi năm (Capital renouvelable annuel) cho một phần công nghệ khuếch trương từng chặng. Ngay cả đối với nguồn vốn nước ngoài khi cần, th́ chúng ta cũng luôn phải ư thức rằng lúc cần như vậy th́ đành chịu một t́nh trạng bị khai thác nào đó. Chúng ta có thể chấp nhận việc bị khai thác để vốn đầu tư nước ngoài có lợi nhuận rộng giữa giá bán ở những nước tiền tiến và giá thành quá hạ nơi chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh một điều kiện bù trừ (condition compensatoire) cho t́nh trạng bị khai thác hiện tại bằng đ̣i hỏi việc tái đầu tư một phần lợi nhuận vào Việt Nam cho tương lai. Đây là sự hy sinh bị khai thác hiện tại cho tương lai khả năng vốn cho thế hệ con cháu. Những điều kiện về phương diện vốn như vừa tŕnh bầy chỉ cho phép chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng\. Không thể nhẩy vọt như mơ ước của CSVN để nhằm đánh bóng cho chính trị độc đảng của họ.
Nói về khả năng Nhân lực, chúng ta cũng không nên quá phiêu lưu vào những công nghệ tân tiến nhất để chịu những rủi ro phá sản v́ tài bất cập theo mơ ước. Xin đừng quá hồ hởi nói như Phạm Văn Đồng: ?Những ǵ nước khác không làm được, th́ VN làm được. Hăy chú tâm vào những công nghệ sản xuất linh kiện và ráp nối để có kinh nghiệm học nghề thuần thục (Apprentissage).
Về hai Yếu tố K và L trong công thức Q == f(K, L, t), th́ chúng ta khuếch trương công nghệ từng chặng vững chắc v́ điều kiện từ từ tạo Autofinancement mà ḿnh làm chủ và có Apprentissage để ḿnh có khả năng cạnh tranh thuần thục hơn người. Đó là việc khuếch trương công nghệ vững chắc chứ không phải mơ ước? nhẩy vọt như CSVN khoác lác để dễ sa xuống hố mất cả ch́ lẫn chài và liên mồm than cứu đói giảm nghèo.
Vai tṛ Khối người Việt Hải ngoạỉ
tham dự Kinh tế Quốc nộỉ
Không thể phủ nhận rằng người Việt tỵ nạn Hải ngoại không c̣n nhớ đến Quê Hương, trừ một số đông người Việt gốc Hoa nhiều khi có thái độ đối với Đất Nước đă cưu mang họ và đă cho họ lư do để được quyền tỵ nạn nhân danh Việt Nam, đă phát biểu ở nước ngoài rằng họ không c̣n nhớ đến Việt Nam.
Khối người Việt tỵ nạn và con cháu học hành, làm ăn ở trên 70 quốc gia sẵn sàng hợp tác với Quốc nội trong việc phát triển Kinh tế Đất Nước với điều kiện là thể chế chính trị có Dân chủ thực sự, tôn trọng Nhân phẩm, Nhân quyền và Dân quyền. Khối người Việt này có những khả năng đóng góp rất lớn như sau:??
==> Khả năng chất sám (Mat́ere grise), Yếu tố
Đó là Yếu tố ?t? trong công thức sản xuất Quốc gia:? Q == f(K, L, t), nghĩa là yếu tố Khoa học, Kỹ thuật (Technologie incorporée) làm tăng hiệu lực cho K (Vốn) và L (Nhân lực). Anh em trẻ Việt Nam học hành và thu thập rất giỏi Kỹ thuật, Khoa học tại những quốc gia tiền tiến này mà Nước Việt Nam không phải tiêu tốn một đồng nào. Họ là nguồn chất sám rất quan trọng đóng góp cho phát triển Quê Hương Việt Nam.
==> Khả năng Vốn và vận động Vốn nước ngoài Yếu tố K:
V́ vấn đề liên hệ gia đ́nh c̣n ở Việt Nam và v́ sự nhớ thương Quê Hương, mà khối người Việt tỵ nạn này đă cung cấp hàng năm cho Quê Hương số lượng ngoại tệ trung b́nh là 4 tỉ đo-la Mỹ. Tính từ 30 năm nay, th́ số ngoại tệ (Vốn) từ khối người Việt tỵ nạn cho Việt Nam là 120 tỉ đo-la Mỹ. Nếu số vốn này không bị thất thoát, và được hướng về sản xuất, th́ đó là một nguốn vốn từ nước ngoài quan trọng cho việc công nghệ hoá những hàng thông dụng dùng trong nước, những hàng linh kiện nhằm xuất cảng và những hàng may dệt cho các thị trường lớn Mỹ và Liên Au.
Ngoài khả năng tự mang vốn về Việt Nam, khối người Việt này c̣n có khả năng kêu gọi vốn nước ngoài v́ họ sống liền kề với những Công ty ngoại quốc.Công việc vận động vốn nước ngoài này của khối người Việt tỵ nạn đă bị làm khó dễ để ăn chận từ những người cầm quyền Việt Nam. Những Công ty Việt Nam ở nước ngoài dễ thảo luận việc liên doanh với những Công ty ngoại quốc hơn là những Công ty này vào Việt Nam để bị bắt buộc liên doanh hoặc qua môi giới của những Công ty quốc doanh tại Việt Nam. Đây là việc ngăn chặn rất quan trọng việc vận động vốn của khối người Việt tỵ nạn tại những Công ty nước ngoài.
==> Khả năng thương mại phân phối (Systeme de Distribution Commerciale):
Khối người Việt sống tại 70 quốc gia trênThế giới là cái đầu cầu vô cùng quan trọng cho Hệ thống Phân phối Thương mại cho Việt Nam, nếu thể chế chính trị quốc nội có những điều kiện về Luật pháp, về Nhân quyền và Dân quyền mà khối nguời Việt Hải ngoại có thể chấp nhận hợp tác được.
Khối người Việt tỵ nạn này đă có mọi điều kiện để làm đầu cầu cho Hệ thống Phân phối Thương mại ở nước ngoài. Họ đă có cơ sở, có khả năng ngoại ngữ giao dịch với khách hàng nước ngoài, có những liên hệ gần gũi với khách hàng của từng địa phương, và chính họ mang tinh thần muốn lựa chọn phân phối hàng của Việt Nam để đóng góp vào sự phát triển Quê Hương. Họ đă mang quốc tịch nước ngoài và được hưởng mọi điều kiện Luật pháp thương mại xuất nhập cảng và phân phối hàng hóa như một người bản xứ tại mỗi Quốc gia.?
Về mặt chuyên môn Kinh tế, Thương mại, nghĩa là bỏ ra một bên vấn đề Chính trị, th́ nhà cầm quyền độc tài toàn trị Việt Nam đă chủ tâm đặt những trở ngại Kinh tế, Thương mại cho khối thương gia tỵ nạn làm việc đứng đắn. Cái trở ngại này đến từ tham nhũng thủ lợi từ giới cầm quyền
Dù Việt Nam, nếu nhập được vào WTO/OMC mà vẫn giữ hệ thống tham nhũng ở các cấp độ điều hành xuất cảng, th́ hiệu quả cũng nhỏ nhoi mà thôi.
Điều quan trọng của Tổ chức Thương mại Thế giới là hàng rào Quan thuế và giá cả Quan thuế. Dù những nước đă nhập WTO/OMC, họ vẫn có những quyền ưu tiên bảo vệ quyền lợi của riêng Quốc gia họ hoặc t́m cách xử dụng những biện pháp ?không giá cả? (Mesures non tarifaires) để tránh né những giá cả quan thuế công khai kư kết trong WTO/OMC (Tarifs douaniers contractuels dans WTO/OMC). Chính khối thương gia tỵ nạn nằm tại những Quốc gia này sẽ t́m cách cho Việt Nam hưởng những giá quan thuế đặc biệt (Tarifs douaniers spéciaux) của từng quốc gia và hưởng những biện pháp ?không giá cả? của mỗi quốc gia (Mesures non tarifaires).
==> Khả năng chống lại tài phiệt nước ngoài bóc lột lao động Việt Nam
Người làm Kinh tế, Thương mại nhằm mục đích trước hết là t́m đủ mọi cách để gặt hái LỢI NHUẬN TỐI ĐA (Maximum du Bénéfice). Để có thể đạt lợi nhuận tối đa, họ phải t́m cách, một đàng bán hàng được giá cao, và sản xuất hàng với giá hạ ngần nào có thể. Những Công ty Mẹ ở tại những nước đă Kỹ nghệ hóa và đầu tư sản xuất ở Việt Nam hay những nước chưa mở mang. Họ bán hàng tại những nước này như Mỹ và Liên Au, Nhật, Nam Hàn... với giá cao v́ mức sống cao. Họ t́m cách sản xuất hàng tại những nước chưa mở mang để có giá thành hạ ngần nào có thể.
Trong việc quản trị Xí nghiệp sản xuất, vấn đề quan trọng là quản trị giá thành của hàng hóa. Nếu là những hàng cao cấp và cần Kỹ thuật cao, Công ty phải lựa chọn bỏ vốn dài hạn vào Kỹ thuật. Nhưng nếu là hàng thông dụng và linh kiện, th́ họ chỉ bỏ ít vốn ngắn hạn vào cơ sở sản xuất Kỹ thuật, mà tận dụng Nhân lực hạ giá\. Đó là việc lựa chọn quản trị giữa K và L trong công thức sản xuất Q == f(K, L, t).
Tại Việt Nam, với t́nh trạng chính trị chưa thể tin cậy, những Công ty đầu tư sản xuất tận dụng Nhân lực hạ giá (L) để sản xuất linh kiện và hàng thông dụng\. Họ cấu kết với Nhà Nước độc tài (có thể bằng tham nhũng) để Nhà Nước này bán rẻ Nhân công làm việc trong điều kiện ?vô nhân đạỏ cho họ sản xuất hàng xuất khẩu bán tại những nước có giá bán cao.
Trong Kinh tế, vấn đề điều kiện làm việc vô nhân đạo và lương tối thiểu bóc lột đă được đặt ra khi có sự cấu kết giữa quyền lực chính trị của một nước với những Công ty nước ngoài chỉ nghĩ đến lợi nhuận tối đa.
Nếu Nhà Nước lại xử dụng Nghiệp đoàn Lao động của Nhà Nước để đứng về phe Chủ, th́ việc bóc lột càng vô nhân đạo hơn v́ Công nhân không c̣n tiếng nói. Chính về điểm này mà cần có một Liên đoàn Công nhân Độc lập.
Những Nghiệp đoàn Công nhân độc lập này có thể có Đại diện làm việc tại nước ngoài tận nơi Công ty Mẹ và tại quốc gia của Công ty Mẹ, th́ việc chống bóc lột vô nhân đạo dễ thành công hơn. Khối người Việt tỵ nạn săn sàng có những Đại diện cho Liên đoàn Công nhân Độc lập của Việt Nam.
Diệt tham nhũng để
khỏi bóc lột quốc nội và
tăng giá thành cạnh tranh quốc tế
Tham nhũng là kẻ thù của phát triển Kinh tế, Thương mại trong nền Kinh tế Tự do và Thị trường thực sự và biết tôn trọng đứng đắn Luật pháp Kinh tế, Thương mại.?
Tại những nước tiền tiến, mỗi khi một Xí nghiệp Nhà nước mất yếu tố cạnh tranh, th́ người ta nghĩ ngay đến giải quyết Tư nhân hóa Xí nghiệp ấy (Privatisation de l?Entreprise). Điều đó có nghĩa là khả năng cạnh tranh của Công ty tư nhân cao hơn khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh.
Cái khả năng cạnh tranh của Công ty quốc doanh kém chỉ v́ có sự xen lấn của quyền lực Nhà Nước vào Kinh tế, Thương mại.
Tại Việt Nam, Kinh tế, Thương mại vẫn c̣n nằm trong hệ thống chỉ huy của quyền lực chính trị độc tài toàn trị, th́ cái khả năng cạnh tranh Kinh tế, Thương mại phải ở mức độ thấp. Khả năng cạnh tranh phải dựa trên hai phương diện: Phẩm chất hàng hóa và Giá thành hàng hóa.
Cha chung không ai khóc?. Xí nghiệp thuộc Nhà Nước. Nhà Nước là chung, th́ khi quản trị, cần ǵ phải khóc cho phẩm chất hàng hóa của Xí nghiệp, cần ǵ phải bù đầu nát óc như Tư nhân mà lo chu đáo phẩm chất hàng làm ra.?
Về phương diện Giá thành hàng hóa, yếu đó chính yếu của cạnh tranh, th́ Công ty quốc doanh không thể căn cơ chi tiêu như Tư nhân bởi lẽ những người quản trị Công ty Nhà nước tiêu tiền chùa của Nhà Nước, trong khi ấy Tư nhân tiêu tiền của chính họ, nên họ phải chắt bóp căn cơ hơn. Đây là việc LĂNG PHÍ của các Công ty Nhà Nước khiến Giá thành tăng lên, mất một phần tính cách cạnh tranh.
Đối với Công ty Tư nhân, nếu lăng phí giảm, th́ lại bị cái nạn THAM NHŨNG của quyền Chính trị từ mọi cấp. Khi phải cho Tham nhũng, th́ Tư nhân không lấy tiền túi riêng của ḿnh ra mà cho. Tư nhân phải t́m mọi cách bù đắp Tham nhũng bằng giảm chi tiêu khác (augmentation de corruption == baisse d?autres dépenses) để giữ Gía thành cạnh tranh hoặc buộc ḷng phải cho vào chi tiêu (augmentation de corruption == imputation au prix de revient) làm tăng Giá thành hàng hóa.
Cái cách thứ nhất, nghĩa là giảm chi tiêu khác v́ tham nhũng, được áp dụng ở Việt Nam\. Xí nghiệp tư hay Công ty nước ngoài, khi phải cho THAM NHŨNG, đă t́m hết cách bắt Công nhân phải chịu cái chi tiêu tham nhũng này. Việc làm này rất dễ bởi lẽ kẻ nhận tham nhũng lại có toàn quyền lực bắt Công nhân phải chấp nhận lương chết đói, xử dụng chính Công đoàn Lao công Nhà Nước để giữ trật tự trong các Xí nghiệp, xử dụng khủng bố, đe dọa, đàn áp để khóa miệng Công nhân không được than văn.
Tóm lại, kẻ có toàn quyền lực mà ngồi cạnh đống tiền, th́ dễ LĂNG PHÍ và ĂN CẮP. Kẻ có toàn quyền đ̣i và nhận THAM NHŨNG khiến hậu quả: (i) một là phải bóc lột Nhân công; đây là lư do chính của Đ́nh Công thuộc Quốc nội; (ii) hai là phải tính vào Giá thành hàng hóa khiến mất tính cách cạnh tranh trong Thị trường thương mại Quốc tế; đây là lư do Đ́nh Công thuộc phạm vi Quốc tế.
Những điểm khả dĩ
thỏa măn tổng thể và căn bản
cho Đ́nh Công
Chúng tôi luôn luôn khẳng định rằng giải quyết của Nhà Nước tăng 40% lương tối thiểu chỉ là một giải quyết vá víu mang nặng tính cách chính trị nhất thời. Những điểm tŕnh bầy ở những phần trên đây cho thấy rằng những lư do đ́nh công thuộc Quốc nội và những lư do liên hệ đến việc cạnh tranh Kinh tế, Thương mại Quốc tế vẫn c̣n tồn tại. Như vậy Đ́nh Công chưa chấm dứt được bằng giải quyết vá víu, rất phiến diện và mang nặng tính chất chính trị.
Hăy nh́n hiệu quả của việc tăng lương tối thiểu 40% này. Khi Nhà Nước? lo sợ hậu quả chính trị của đ́nh công, đă đơn phương tuyên bố tăng lương tối thiểu 40%\. Những Công ty nước ngoài đă phản ứng liền, thậm chí c̣n đe dọa Nhà Nước Việt Nam là họ có thể rút vốn đầu tư khỏi Việt Nam\. Đó chỉ là phản ứng tức thời cho việc tăng 40% đơn phương tuyên bố của Nhà Nước VN trước đe dọa hậu quả chính trị từ đ́nh công.
Nhưng tất nhiên tài phiệt nước ngoài sẽ t́m cách giải quyết việc tăng 40% này:
==> Họ sẽ giảm những chi tiêu khác mà công nhân phải chịu: tăng giờ làm việc, giảm phụ cấp, giảm phần ăn... Họ làm như vậy để giữ nguyên Giá thành cạnh tranh quốc tế.
==> Nếu thực sự họ cho việc tăng 40% này vào Giá thành hàng hóa, th́ khả năng cạnh tranh Quốc tế của họ bị giảm đi. Dầu sao mức rộng của Lợi Nhuận của họ vẫn c̣n khả năng chịu đựng được việc kém đi một phần khả năng cạnh tranh này.
Chúng tôi muốn nói đến những giải quyết tổng thể và căn bản cho vấn đề đ́nh công hay đúng hơn cho Thị trường Nhân Công Việt Nam. Những giải quyết tổng thể và căn bản này phải căn cứ trên tất cả những vấn đề mà chúng tôi đă tŕnh bầy ở các đoạn trên đây. Những vấn đề này liên hệ mật thiết với nhau:
@ Ưu tiên phát triển Nông nghiệp và Ngư nghiệp
Một số đông những Công nhân đến từ giới Nông nghiệp\. Họ trở thành Công nhân, nhưng đồng lương của họ phải dành để bảo trợ cuộc sống gia đ́nh c̣n ở Nông thôn\. Khi Nông nghgiệp và Ngư nghiệp phát triển và bảo đảm cho họ và gia đ́nh họ không bị nghèo khổ, chết đói, th́ họ có thế mạnh thương thảo trên Thị trường Nhân lực đối với Chủ cấu kết với Quyền lực chính trị bắt ép họ\.?
@ Khả năng tự tạo vốn độc lập của Việt Nam trong công nghệ hóả
Chúng tôi đă tŕnh bầy rằng Việt Nam có những nguồn vốn tái lập hàng năm (Ressources des Capitaux renouvelables), đó là Nông nghiệp và Ngư nghiệp: những mùa lúa, hoa trái và nguồn thủy sản sông ng̣i và Biển Đông. Nông nghiệp và Ngư nghiệp phát triển sẽ cung cấp cho việc công nghệ hóa từng chặng vững chắc cho những hàng thông dụng trong nước và những linh kiện xuất cảng. Việc công nghệ hóa từng chặng này không cần vốn khổng lồ và dài hạn. Số vốn đầu tư trong những công nghệ này mau mắn thu hồi lại (Investissements récupérables à court terme). Đối với những Công ty nước ngoài đầu tư, Công nhân có thể chấp nhận mức lương tương đối hạ để thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng yêu cầu điều kiện các Công ty ấy tái đầu tư một phần Lợi Nhuận ở Việt Nam. Sở hữu chủ của việc tái đầu tư này vẫn là Công ty nước ngoài, nhưng hiệu quả là cho tương lai dài hạn cho chính Công nhân và con cháu công nhân. Như vậy Công nhân có thể hy sinh tương đối ở đoản hạn để giữ thế cạnh tranh quốc tế cho quyền lợi Kinh tế dài hạn của chính họ và con cháu họ. Đây là việc rất quan trọng. Đừng để những Công ty nước ngoài bóc lột Công nhân để có Lợi nhuận lớn và mang tất cả Lợi nhuận ấy đi đầu tư nước khác.
@ Tạo điều kiện hợp tác của Khối người Việt Hải ngoạỉ
Chúng tôi đă tŕnh bầy ở trên rằng khối người Việt Hải ngoại là nguồn chất sám, có khả năng cung cấp vốn và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, là đầu cầu hữu hiệu cho Hệ thống Phân phối hàng hóa Việt Nam. Nước Do Thái sống giữa thù địch ở Trung Đông, không có những điều kiện địa lư tự nhiên cho phát triển Kinh tế, nhưng đă phát triển được và giữ vững Kinh tế, đó là nhờ khối Dân Do thái sống ở nước ngoàiSau Dân Do Thái, người Việt Nam là Dân tộc cũng đi tỵ nạn trên 70 quốc gia. Xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là làm tăng thêm phát triển Kinh tế, Thương mại của Việt Nam.
Điều kiện để có thể xử dụng được khối người Việt Hải ngoại là vấn đề Chính trị. CSVN cố thủ giữ độc quyền cai trị và do đó loại trừ sự đóng góp hữu hiệu của khối người Việt tỵ nạn vào sự phát triển Kinh tế Đất Nườc. Chỉ cần một điều kiện là đảng CSVN từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, khối người Việt Hải ngoại sẵn sàng đem khả năng ḿnh vào việc phục vụ phát triển Kinh tế của Quê Hương.Việc phát triển Kinh tế tất nhiên là giải quyết tổng thể và căn bản nhất cho Đ́nh Công.
@ Diệt Lăng phí và Tham nhũng
Chúng tôi không cần nói rằng Lăng phí và Tham nhũng là kẻ thù của Luân lư, mà nhất định nói rằng hai thứ đó chính yếu là Kẻ thù của Kinh tế Tự do và Thị trường. Không ai lấy tiền túi riêng của ḿnh ra để Lăng phí và cho Tham nhũng. Những Nhà đầu tư vào Kinh tế đều t́m cách tính Lăng phí và Tham nhũng vào chi tiêu Xí nghiệp, nghĩa là vào Giá thành của hàng hóa (Imputation des gaspillages et des corruptions dans les calculs des Prix de Revient des produits). Đây là việc làm tăng Giá thành hàng hóa và làm mất khả năng cạnh tranh thương mại Quốc tế.
Nếu các Xi nghiệp muốn giữ khả năng cạnh tranh quốc tế, nghĩa là giữ nguyên Giá thành sản xuất, th́ buộc ḷng họ phải quay lại đổ Lăng phí và Tham nhũng trên đầu Nhân công.
?Phải diệt Lăng phí và Tham nhũng. Đó là giải quyết quan trọng hàng đầu trong những giải quyết tổng thể và căn bản cho Đ́nh Công. Lăng phí và Tham nhũng là con đẻ của tất cả những chế độ độc tài toàn trị. Không thể lấy lời khuyên tinh thần để kêu gọi bỏ lăng phí và tham nhũng bởi v́ Thánh nhân có toàn quyền sinh sát mà ngồi bên đống tiền, th́ cũng sinh ḷng trắc ẩn dấu diếm tiền bạc, ăn cắp ăn xén. Phải có cơ cấu cho những ai có tiền, được quyền kiểm soát, phanh phui những ai làm lăng phí và đ̣i tham nhũng, nghĩa là phải có Dân chủ để Dân có quyền kiểm soát và chế tài những kẻ lăng phí và ăn tham nhũng vào tiền bạc của Quốc gia. Tổ chức chính trị phải có tối thiểu lưỡng đảng để kiểm soát tiền bạc lăng phí và tham nhũng. Phải có Tự do Ngôn luận để tư nhân có thể la lớn lên khi kẻ có quyền chính trị ăn cướp tiền của họTrong việc đấu tranh hiện nay của Công Nhân qua những cuộc Đ̀NH CÔNG, Công nhân yêu cầu rơ rệt là phải cho họ có LIÊN ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐỘC LẬP? để những người Đại diện của họ có thể đấu tranh chống lại việc tham nhũng của cường quyền cấu kết với thế lực tài phiệt ngoại lai mà bóc lột họ. Việc đ̣i hỏi này là hoàn toàn chính đáng v́ đó là thuộc quyền DẠ DẦY, quyền quan trọng nhất trong danh sách Nhân quyền. Đó là giải quyết cấp bách để hợp tác đề nghị những giải quyết tiếp theo cho Đ̀NH CÔNG vậy.